Ảnh hưởng của các loài tảo làm thức ăn lên sự phát triển của quần thể Microsetella norvegica

Copepodalà loài ăn lọc, thức ăn của chúng chủyếu là tảo. Ởmột sốloài tảo có chứa hàm lượng acid béo thiết yếu rất cao nhưeicosapentanoic acid (20:5n-3) (EPA) và acid docosahexanoic (22:6n-3) (DHA), cho nên chúng được xem là thức ăn tươi sống rất tốt bổsung hàm lượng acid béo cho Copepoda. Khi Copepoda ăn tảo, nó sẽthu nhận các acid béo thiết yếu này và sau đó tiến tới cân bằng giữa tỉlệ DHA/EPA, với tỉlệDHA/EPA bằng 2 là rất tốt cho ấu trùng cá (Dominic và John, 1998). Các loài tảo thường được sửdụng làm thức ăn cho Copepodalà Isochrysis galbana, Chaetoceros gracilis,Dunaliella tertiolecta(Rippingale và Payne, 2001). Tuy nhiên, mỗi loài tảo có giá trịdinh dưỡng khác nhau, I. galbana có chứa hàm lượng DHA (22:6n-3) cao, C. gracilis có chứa EPA (20:5n-3) cao, trong khi đó D. tertiolecta có hàm lượng LNA cao và đây là các acid béo rất cần thiết cho quá trình sinh trưởng và phát triển của Copepoda. Do đó, đểtìm ra giống loài tảo làm thức ăn thích hợp cho sựphát triển của Copepoda, cho nên nghiên cứu này được tiến hành với mục tiêu là xác định giống loài tảo làm thức ăn thích hợp nhằm ứng dụng trong việc nuôi sinh khối Copepoda M. norvegica.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC