Ảnh hưởng của tảo Chaetoceros sp lên chất lượng artemina sinh khối

Sinh khối Artemiatươi sống từlâu đã được sửdụng rộng rãi trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là làm thức ăn cho một sốloại ấu trùng cá (Seale, 1933 và Rollefsen, 1939). Chúng được sửdụng với nhiều kích cỡkhác nhau từ ấu trùng mới nởcho đến con trưởng thành. Theo Sorgeloos et al., 2001, ấu trùng Artemiamới nởlà loại thức ăn thích hợp nhất cho tỷlệsống cao và không thểthay thế đối với ấu trùng các loại tôm cá biển giai đoạn đầu do chúng có kích thước khá nhỏ(400-500mm), hàm lượng dinh dưỡng cao thích hợp cho sựbắt mồi và phát triển của ấu trùng. Tuy nhiên ởmột sốloài cá biển có kích thước miệng ấu trùng khá lớn nhưlà cá tầm, cá hồi thì loại Artemialớn hơn (con non, tiền trưởng thành hoặc trưởng thành) tỏra có hiệu quảhơn cảvềmặt kinh tếlẫn khảnăng sửdụng của vật ăn mồi. Ngoài ra, sinh khối Artemiakhi được sửdụng làm thức ăn cho tôm hùm bốmẹthì cho khảnăng thành thục của đàn bốmẹkhá cao (Smets et al., 1984; Leger et al., 1986; Naessens et al., 1997). Theo Sorgeloos et al., (1996), Artemiacon trưởng thành được thu hoạch từmôi trường tựnhiên có hàm lượng protein khá cao, chiếm khoảng 50-69% nhưng hàm lượng chất béo tổng cộng chỉchiếm khoảng 2,4-19,3% tùy theo loài, thấp hơn nhiều so với Artemiamới nở. Xuất phát từtập tính ăn lọc không chọn lựa của Artemia, chúng có khảnăng lọc được những hạt lơlửng trong môi trường nước nếu kích thước nhỏhơn 50µm (Reeve, 1963) nên đối với con non và con trưởng thành, Artemiathường được cải thiện chất lượng bằng kỹthuật giàu hoá (sửdụng sản phẩm giàu hàm lượng acid béo làm thức ăn cho Artemia) trước khi đem cho tôm, cá ăn. Nhiều nghiên cứu trước đây đã chứng minh rằng hàm lượng acid béo cao không no (HUFA) có trong Artemiaphần lớn phụthuộc vào thức ăn mà nó nhận được (Leger et al.,1986); Sorgeloos et al., (1996)), vì vậy ngoài việc giàu hoá bằng những sản phẩm thương mại, chất lượng Artemiacũng được cải thiện thông qua việc sửdụng các loài tảo chất lượng cao làm thức ăn cho chúng. Luong Van Thinh et al. (1999) đã dùng 13 loài tảo biển với thành phần HUFA khác nhau làm thức ăn cho Artemia, sau 7 ngày nuôi cho thấy thành phần HUFA trong thức ăn biểu hiện rõ trong thành phần HUFA của Artemia. ỞViệt nam, mặc dù Artemia đã được thảnuôi rộng rãi ởvùng ven biển Vĩnh Châu-Bạc Liêu cách nay 20 năm, các sản phẩm trứng bào xác và sinh khối cũng đã được sửdụng đại trà trong ương nuôi tôm, cá nhưng việc tìm hiểu vềthức ăn cho Artemia đểnâng cao chất lượng cũng chưa được đểý đến, vì vậy trong nghiên cứu này một sốloài tảo địa phương thường xuất hiện trong mùa nuôi Artemia đã được phân lập và dùng làm thức ăn đểnuôi sinh khối Artemianhằm bước đầu đánh giá khảnăng sửdụng và cải thiện chất lượng dinh dưỡng trong sinh khối Artemia.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC