Bài giảng Cây công nghiệp dài ngày

Cây cao su có nguồn gốc từ Nam Mỹ, mọc trên m ột địa bàn rộng 5 đến 6 triệ u km2, thuộc toàn b ộ lưu vực sông Ama zon v à vùng kế cận, giữa hai vĩ tuyến 13 độ B - 13 độ N (Nguyễn Khoa Chi, 1985). Theo Nguyễn Thị Huệ (1997), phạm vi phân bố của cao su hoang dại chỉ trong khoảng vĩ độ 50Bắc v à Nam. Nó được nhận ra bởi thổ dân vùng Amazôn từ lâu. Tuy nhiên, cho đ ến cuối thế kỷ XV những người Châu Âu đầu ti ên đến đây m ới biết chúng, Christophe Colo mbo phát hiện v ào giai đoạn 1493 - 1496. Mãi đến thế kỷ XVII mới có những công trình nghiên cứu thê m về cây cao su, do La Condamine và Fresneau thực hiện. Sau đó nhờ có phát hiệ n thêm của Goodyear vào năm 1999 v ề việc lưu hóa mủ cao su. Từ đó, cao su nhanh chóng trở thành hà ng hóa. Bắt đầu, mủ cao su chỉ đ ư ợc khai thác từ cây cao su rừng ở Brazil. Trong suốt cu ối thế kỷ XIX Brazil luôn giữ thế độc quyền về sản phẩ m của cây nà y. Tuy nhiên, vào năm 1875 Collins, (ngư ời Anh) lần đầu tiên lấy trộm đư ợc 2.000 hạt, đem gieo mọc được 12 cây và trồng ở Calcutta - Ấn Độ. Nhưng đã b ị chết hết. Sau đó một năm (14/06/1876) Henr y Wickha m( người Anh), cũng lấy trộm được hơn 70.000 hạt đem gieo tại vư ờn bách thảo Kew, London mọc đ ư ợc 24 cây. Số cây này đư ợc đem trồng tại Colo mbo -Srilanka. Từ nguồ n này cao su phát triển lan rộng khắp vùng Đông Na m Á, Châu Phi và trở lạ i Châu Mỹ. Trong đó vùng Đông Na m Á có diện tíc h trồng lớn nhất. Mủ cao su trồng được thu hoạch lầ n đầu tiên từ 24 cây của Wickha m vào năm 1884 tại Colo mbo -Srilanka. Nó là khởi đầu cho việc phá bỏ thế độc quyề n của Brazil. Nh ững nă m cuối thế kỷ XX, nhờ có sự hổ trợ của hiệp hội cao su thế giới (IRRDB) có hơn 15.800 cây đ ầu dòng đã đư ợc thu thập từ khắp lưu vực sông Ama zon (1974 - 1982) đã là m phong phú thê m nguồn ge n để bổ sung v ào nguồ n Wickha m hiện có, nhờ đó m à kh ả năng các giống đư ợc tạo ra sau này sẽ có nhiề u ưu thế về năng suất và nhi ều đặc tính ưu vi ệt khác

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC