Báo cáo Đánh giá tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam

Báo cáo nghiên cứu này đánh giá tiềm năng xuất khẩu của khoảng 40 ngành hàng tại Việt Nam, bao gồm các sản phẩm tiền khoáng sản và nhiên liệu, thuỷ sản, nông sản, sản phẩm công nghiệp, sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Báo cáo so sánh và xếp hạng các ngành hàng theo nhiều khía cạnh khác nhau, bao gồm môi trường quốc tế (ví dụ: nhu cầu của thế giới), tình hình xuất khẩu hiện tại của Việt Nam và các điều kiện cung cấp nội địa của các ngành hàng. Phân tích thống kê và khảo sát tài liệu được bổ sung bởi các cuộc phỏng vấn các thể nhân tại địa phương ở Việt Nam, bao gồm ở cả khu vực tư nhân và công cộng, nhằm trực tiếp nhìn nhận về môi trường kinh doanh nội địa có ảnh hưởng tới các doanh nghiệp tại Việt Nam hoạt động trong các ngành hàng khác nhau. Báo cáo bao gồm nội dung phân tích chuyên sâu về nhiều ngành hàng riêng biệt, trong đó có đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và Thách thức (phân tích SWOT); xác định những lĩnh vực chính cần có sự can thiệp và những chính sách liên quan đến xúc tiến phát triển xuất khẩu trong tương lai. Báo cáo cũng xác định những thị trường mục tiêu có khả năng thâm nhập nhằm đa dạng hóa thị trường cho từng ngành hàng. Việt Nam có tiềm năng xuất khẩu lớn các loại hạt, dầu, đồ gỗ nội ngoại thất, than đá, giày dép, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, thủy hải sản, cao su, đóng tàu, thủy tinh, cà phê, máy móc nông nghiệp, hạt tiêu, đồ gia dụng, đồ chơi, trò chơi và hàng may mặc. Ngược lại, tiềm năng xuất khẩu có vẻ giới hạn đối với sản phẩm sữa, sản phẩm từ sợi đay, rau quả, gạo, hoa tươi cắt cuống, ô tô, xe máy và hàng dệt gia dụng. Đánh giá tiềm năng xuất khẩu và xác định những chính sách dành riêng cho từng ngành hàng cụ thể chỉ có thể là một phần trong tổng khối lượng công việc thực hiện thảo luận về những vấn đề thực tế đang rơi vào tình trạng Thách thức ở Việt Nam. Các tác giả muốn nhấn mạnh rằng sự lựa chọn tốt nhất của Việt Nam là không lựa chọn những ngành hàng thắng lợi trên thị trường xuất khẩu mà tạo một môi trường kinh doanh có lợi cho việc giảm rủi ro, hợp tác, sáng tạo và đổi mới. Cơ sở và mục đích nghiên cứu Việt Nam đang trong quá trình thiết kế các chiến lược phát triển thương mại rõ ràng với mục tiêu làm tăng khả năng cạnh tranh quốc gia. Việt Nam có các mức tăng trưởng xuất khẩu ấn tượng qua các năm, nhưng các mặt hàng xuất khẩu vẫn tập trung với số lượng hạn chế ở một số ngành hàng, bao gồm dệt may, da giày, dầu mỏ, và thủy hải sản. Thêm vào đó, các sản phẩm đều có đặc thù là có thị phần nhỏ, chất lượng thấp, giá thấp khiến Việt Nam dễ bị ảnh hưởng bởi các chu kỳ kinh doanh và những biến đổi giá quốc tế. Vì vậy, việc mở rộng cơ sở công nghiệp và đa dạng hóa nền tảng xuất khẩu là vấn đề chính đối với Việt Nam và đã trở thành một trong những vấn đề quan trọng trong chương trình chính sách quốc gia. Khá nhiều yếu tố trong vấn đề này liên quan đến việc tạo một môi trường kinh doanh có lợi cho khả năng sáng tạo, hợp tác và đổi mới. Tuy nhiên trong một số trường hợp, các chính phủ cần bổ sung những chính sách “nằm ngang” áp dụng cho tất cả các ngành kinh tế bằng những chính sách có mục tiêu cụ thể, cho những ngành hàng cụ thể. Khi một chính phủ muốn đưa ra mục tiêu cho các khu vực kinh tế, điều cần thiết là phải tập trung vào những ngành có khả năng tạo ra sự khác biệt, đặc biệt là những ngành có tiềm năng tăng trưởng cao nhất trong tương lai. Các chính phủ, nhà tài trợ và các thể nhân cần đưa ra quyết định có thông báo trước về những ngành hàng ưu tiên lựa chọn. Bản nghiên cứu hiện thời này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình ra quyết định bằng cách lấp chỗ khuyết giữa các bản nghiên cứu khả năng cạnh tranh kinh tế vĩ mô và những báo cáo chi tiết về từng ngành hàng cụ thể. Mục tiêu của bản báo cáo nghiên cứu này nhằm xác định những ngành hàng có tiềm năng quan trọng cho sự tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam trong tương lai. Bản nghiên cứu nhằm mục đích tạo điều kiện cho các thể nhân tham gia thiết kế và thực hiện các chương trình phát triển xuất khẩu để xem xét các thông tin định tính và định lượng trong một khuôn khổ nhận thức nhất quán. Nó xác định những khu vực kinh tế có tiềm năng quan trọng cho tăng trưởng xuất khẩu. Nó cũng có sự tập trung chiến lược nhằm chỉ dẫn cho chính phủ, các khu vực kinh tế tư nhân và xã hội hướng tới những lĩnh vực kinh tế triển vọng. Bản báo cáo này cập nhật và mở rộng bản nghiên cứu trước đây của ITC, từ tháng 1/2002, tựa đề “Đánh giá tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam (ITC, 2002a). Báo cáo đề cập đến các sản phẩm khoáng sản, thủy hải sản, nông sản hàng hóa và nông phẩm, sản phẩm công nghiệp, sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Riêng lĩnh vực dịch vụ không bao gồm trong báo cáo. Phương pháp nghiên cứu Tiềm năng xuất khẩu của một nhóm sản phẩm được xác định ở đây bao gồm cả những ngành hàng đã xuất khẩu, có hồ sơ chứng minh số liệu và những ngành hàng chưa từng xuất khẩu nhưng có những điều kiện cần thiết để có thể xuất khẩu. Việc đánh giá tiềm năng xuất khẩu của từng ngành hàng được xem xét nghiên cứu dựa trên một số tiêu thức mở rộng, bao gồm: - Tình hình xuất khẩu hiện tại của Việt Nam, chẳng hạn giá trị xuất khẩu, thị phần thế giới và mức tăng trưởng xuất khẩu. - Khả năng cung cấp nội địa, chẳng hạn chất lượng sản phẩm và tính hiệu quả của các ngành công nghiệp hỗ trợ. - Đặc điểm môi trường quốc tế, chẳng hạn sự tăng trưởng nhu cầu thế giới và tiến trình hội nhập thị trường quốc tế của Việt Nam; Về tổng thể, bản nghiên cứu sử dụng 14 chỉ số và đưa ra các thứ hạng cho từng tiêu thức nghiên cứu cũng như xếp hạng tổng thể tiềm năng xuất khẩu nhằm sử dụng để thu hút sự chú ý của các nhà hoạch định chính sách. Bản nghiên cứu dựa trên các nguồn thông tin từ nhóm phân tích thị trường của ITC và 4 nhóm tư vấn của Việt Nam thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (MARD), Hiệp hội các nhà sản xuất và xuất khẩu thủy sản (VASEP), Bộ Công nghiệp (MOI) và Trung tâm Nghiên cứu và Hỗ trợ các Làng nghề Thủ công Truyền thống Việt Nam (HRPC).

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC