Báo cáo nghiên cứu khoa học Mô phỏng cuộc gọi trong báo hiệu C7

Báo hiệu là ngôn ngữ trao đổi giữa các thiết bị viễn thông. Trong mạng telephone, báo hiệu là truyền các thông tin, chỉ thị từ điểm này đến điểm kia để thiết lập và giám sát một cuộc gọi. Báo hiệu gồm hai loại: báo hiệu thuê bao (subscriber-exchange) và báo hiệu liên đài (exchange-exchange). Báo hiệu liên đài lại được chia thành hai loại: báo hiệu kênh riêng CAS và báo hiệu kênh chung CCS. Báo hiệu kênh riêng CAS là loại báo hiệu nằm trong kênh tiếng hoặc liên quan chặt chẽ với kênh tiếng. Mỗi kênh tiếng có một đường báo hiệu riêng xácđịnh.Trong nhiều năm, các hệ thống báo hiệu loại này đã phát triển như 1VF, 2VF (CCITT #4),MFP (CCITT #5,R1), MFC (CCITT R2,LME MFC). Đặc điểm của loại báo hiệu này là tốc độ chậm, dung lượng giới hạn chỉ đáp ứng được các mạng có dung lượng thấp và các loại hình dịch vụ còn nghèo nàn. Trong những năm 1960, khi các tổng đài SPC được giới thiệu trong mạng điện thoại đã đòi hỏi một khái niệm báo hiệu mới với nhiều ưu điểm hơn các hệ thống báo hiệu truyền thống. Trong khái niệm báo hiệu mới này, các đường số liệu nhanh giữa các bộ xử lý của các tổng đài SPC được sử dụng để mang tất cả các báo hiệu tách riêng với các mạch thoại để mang tiếng nói. Loại báo hiệu mới này thường được xem như là báo hiệu kênh chung CCS. Trong CCS, báo hiệu cho nhiều mạch thoại có thể được thực hiện bằng vài đường số liệu báo hiệu nhanh. Báo hiệu được thực hiện trên cả hai hướng, mỗi hướng một kênh báo hiệu. Thông tin báo hiệu được nhóm thành các đơn vị báo hiệu (các gói dữ liệu) để truyền. Bên cạnh thông tin báo hiệu còn cần các thông tin khác như là: nhận dạng mạch thoại, thông tin địa chỉ (nhãn),và thông tin điều khiển lỗi. Các tổng đài SPC cùng với các đường báo hiệu tạo thành một mạng báo hiệu ”chuyển mạch gói” logic riêng biệt. Ngày nay, đã có hai hệ thống tiêu chuẩn khác nhau cho báo hiệu kênh chung. Hệ thống thứ nhất, CCITT số 6 đã được đưa ra từ năm 1968 và được dành cho đường dây analog, chủ yếu là cho lưu lượng liên lục địa. Hệ thống thứ hai, CCITT số 7 đã được chỉ rõ trong năm 1979/1980, chủ yếu dành cho các mạng số cả quốc gia và quốc tế có sử dụng tốc độ truyền dẫn cao (64 Kb/s). Nó cũng được sử dụng trên các đường analog. Hưởng ứng phong trào ‘Sinh Viên Nghiên Cứu Khoa Học’ của Học viện Công Nghệ Bưu Chính Viễn Thông. Chúng tôi đã tham gia nghiên cứu về đề tài ‘Nghiên cứu hệ thống báo hiệu số 7’. Nội dung gồm hai phần: - Phần một : Lý thuyết báo hiệu số 7. - Phần hai : Mô phỏng báo hiệu số 7 trong tổng đài A1000E10. Đề tài này có thể dùng cho sinh viên tham khảo khi làm thực hành. Tuy nhiên trong quá trình làm việc không thể tránh khỏi những sai sót. Rất mong được thầy cô và các bạn góp ý để hoàn thiện hơn.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC