Báo cáo Phân tích ngành thủy sản

Năm 1981, thủy sản là ngành kinh tế đầu tiên được Chính phủViệt Nam cho phép vận dụng cơchếkinh tếthị trường trong sản xuất và kinh doanh. ðặc biệt từnăm 1986, khi bước vào thời kỳ đổi mới, thịtrường xuất khẩu thủy sản đã được mởrộng và tăng trưởng với tốc độnhanh, mở đường cho quá trình chuyển đổi cơcấu trong sản xuất công nghiệp và khai thác đánh bắt, chăn nuôi. Với đường bờbiển dài hơn 3.200 km, vùng đặc quyền kinh tếtrên biển rộng hơn 1 triệu km2, và vùng mặt nước nội địa lớn rộng hơn 1,4 triệu ha nhờhệthống sông ngòi, đầm phá dày đặc. Mặt nước thuộc chủquyền của Việt Nam ước tính có xấp xỉ2.000 loài thủy hải sản, trong đó có 130 loài có giá trịthương mại cao. Trữlượng thủy hải sản của việt Nam được ước tính khoảng 4,2 triệu tấn và nguồn tái tạo là khoảng 1,73 triệu tấn. Việt Nam có vịtrí địa lý và điều kiện tựnhiên thuận lợi tạo ra thếmạnh nổi trội đểphát triển ngành công nghiệp thủy sản. Xuất khẩu thủy sản, do đó, trởthành một trong những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế. Sản xuất, xuất khẩu thủy hải sản là ngành kinh tếkỹthuật đặc thù bao gồm nhiều hoạt động mang tính nông nghiệp, công nghiệp cũng nhưthương mại, dịch vụ; liên quan tới các khâu của quá trình sản xuất như đóng, sửa chữa thuyền cá, sản xuất lưới, ngưcụ, các thiết bịchếbiến, bảo quản thủy sản hay các ngành chăn nuôi. Sản xuất và chếbiến thủy sản cũng có vai trò quan trọng trong việc tạo ra công ăn việc làm và an sinh xã hội. Năm 2009, sản xuất thủy sản chiếm 7,65% giá trịGDP theo giá thực tế, đồng thời thủy sản là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC