Các giải Nobel Kinh tế từ năm 2000 đến nay

NĂM 2009: Elinor Ostrom nhận giải “phân tích về quản lý kinh tế, đặc biệt là về những tài nguyên chung" còn Oliver E.Williamson nhận giải "phân tích về quản lý kinh tế, đặc biệt là về những đường biên của hãng". Bà Elinor Ostrom đã chứng minh lập luận "cha chung không ai khóc" là hoàn toàn sai nhờ đưa ra những nghiên cứu thực nghiệm cho thấy quản lý tài sản chung vẫn hoàn toàn có hiệu quả cao, thay vì phải cá nhân hóa hay quản lý tập trung về 1 mối. Nơi mà tài sản công được quản lý dựa trên những nguyên tắc được đề ra bởi chính tổ chức đó sẽ cho kết quả tốt hơn bị những qui định từ phía bên ngoài. Ông Oliver Williamson tập trung nghiên cứu về quản lý kinh tế trong khu vực công ty. Trong một số trường hợp, các hình thức thể chế khác như tổ chức hãng (đóng góp của Willamson) hay sự tự quản lý nguồn lực chung của người sử dụng tài nguyên (đóng góp của Ostrom) có thể là giải pháp hiệu quả hơn thị trường. Williamson đi sâu vào việc phát triển lý thuyết hãng, Ostrom tìm hiểu về cơ chế kiểm soát hữu hiệu đối với các tài nguyên chung để tránh việc chúng bị rơi vào tình trạng khai thác cạn kiệt. • NĂM 2008: Paul Krugman đóng góp về Thuyết thương mại và Kinh tế địa lý. Ông giải thích tập trung công nghiệp ở một địa phương có sẵn một thị trường lớn. Qua thời gian, nếu lực hướng tâm này đủ mạnh sẽ có hiệu ứng tích lũy: những vùng là nơi đầu tiên có những trung tâm sản xuất thì những vùng ấy sẽ thu hút thêm các nhà sản xuất, trở thành trung tâm kinh tế, vùng khác trở thành “ngoại vi”. Ông đã phát triển mô hình giải thích những hình mẫu thương mại được quan sát giữa các nước, cũng như lý do và địa điểm các loại hàng hóa đuợc sản xuất. Ông đã làm sáng tỏ các vấn đề về kinh tế và thương mại quốc tế khác hẳn so với các nghiên cứu trước đó giải đáp về vấn đề tự do thương mại và toàn cầu hoá đã thúc đẩy đô thị hoá toàn cầu. • NĂM 2007: Các thị trường sẽ được thiết kế thế nào để chúng có thể hoạt động hiệu quả hơn? Đây là câu hỏi mà cả 3 người đoạt giải Nobel Kinh tế 2007 là Leonid Hurwicz, Eric Maskin và Roger Myerson đã đoạt giải Nobel kinh tế năm 2007 đã cố gắng trả lời. Leonid Hurwicz đã đặt nền móng cho Học thuyết thiết kế cơ chế và được hai nhà kinh tế Roger B. Myerson và Eric S. Maskin, phát triển lên, giúp nâng cao sự hiểu biết về cơ cấu phân phối tối ưu trong mọi hoàn cảnh, giải thích động cơ của các cá nhân và những thông tin riêng. Lý thuyết này giải thích lí do không có giải pháp thị trường nào cho vấn đề cung cấp hàng hóa công cộng và một thị trường mang lại hiệu quả đầy đủ nhất chỉ trong những điều kiện rất phi thực tế. Học thuyết này giúp xác định cơ chế nhận biết thu nhập lớn nhất từ thương mại, tối đa hóa thu nhập của các nhà buôn hoặc cung cấp một kế hoạch có tính bao quát chắc chắn mà không mắc sai lầm. Học thuyết này cũng giúp tạo ra một hệ thống đánh thuế mới: trợ cấp xã hội được đưa tới mọi nơi cần thiết và giúp đánh giá những quy định của chính phủ trên một số lĩnh vực cụ thể.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC