Chuyên đề Phân tích tình hình ứng dụng các hiệp ước vốn tại Việt Nam

Ngày 11/1/2007,Việt Nam chính thức gia nhập WTO. Từ đó, xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa ngày càng trở nên mạnh mẽ khiến các doanh nghiệp Việt Nam đứng trước những cơ hội cũng như thách thức. Đặc biệt, đối với hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) phải mở cửa gần như hoàn toàn theo các cam kết quốc tế lại càng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi xu thế này. Trước bối cảnh đó, cơ quan quản lý nhà nước (cụ thể là NHNN) cũng như hệ thống TCTD Việt Nam phải chủ động nhận thức và sẵn sàng tham gia vào quá trình hội nhập để có thể biến thách thức thành cơ hội, biến những khó khăn thành lợi thế. Chính vì thế, NHNN phải ban hành các văn bản luật pháp phù hợp và hệ thống TCTD phải cố gắng nâng cao vị thế, năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế bằng cách tuân thủ theo một số điều ước quốc tế đã được cụ thể hóa bằng các văn bản luật tại Việt Nam. Để từ đó có cơ sở so sánh, đánh giá và xếp hạng giữa các TCTD Việt Nam với các TCTD của các quốc gia khác trên thế giới. Một trong những điều ước quốc tế được hầu hết nhà quản trị ngân hàng trên thế giới đặc biệt quan tâm chính là Hiệp ước quốc tế về an toàn vốn do Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng ban hành lần đầu vào năm 1988 (với tên gọi Basel I). Sau đó hiệp ước vốn này được thay thế bằng Basel II và cuối cùng là Basel III. Ở Việt Nam, NHNN và hệ thống TCTD đã áp dụng các hiệp ước vốn này vào chính sách quản lý vĩ mô cũng như quản trị rủi ro của từng TCTD. Tuy nhiên, việc ứng dụng các hiệp ước Basel vẫn còn nhiều vướng mắc, nên chỉ mới dừng lại ở việc lựa chọn một số tiêu chí đơn giản trong các Hiệp ước Basel để vận dụng và vẫn chưa tiếp cận hoàn toàn các điều khoản.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC