Cơ sở pháp lý và khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu

Điều 127 BLDS 2005 quy định : “Giao dịnh dân sự không có một trong các điều kiện quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu”. Như vậy theo quy định của Điều 127 BLDS và các điều khỏan tiếp sau cũng như Điều 410 BLDS chúng ta có thể hiểu các điều kiện được qui định tại Điều 122 BLDS chính là những điều kiện cần và đủ để hợp đồng có hiệu lực. Theo ngôn từ của Điều 127 BLDS và các điều khỏan tiếp sau cũng như Điều 410 BLDS chúng ta có thể hiểu các điều kiện được qui định tại Điều 122 BLDS chính là những điều kiện cần và đủ để hợp đồng có hiệu lực. Nói cách khác chỉ khi một hợp đồng vi phạm một trong các điều kiện trên thì mới có thể bị coi là vô hiệu ngoài ra không còn bất cứ trường hợp vô hiệu nào khác. Tuy nhiên, Điều 411 BLDS lại qui định trường hợp hợp đồng dân sự vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được. Như vậy cho thấy sự thiếu bao trùm của Điều 127 BLDS hay sự thiếu thống nhất trong qui định về hợp đồng dân sự vô hiệu. Để tránh nhược điểm này theo tôi Điều 127 cần được sửa lại theo hướng mềm dẻo hơn và bao quát hơn đó là thay cụm từ mang tính dân dã “không có” bằng cụm từ mang tính pháp lý “vi phạm” tại Điều 127 BLDS. Cụ thể là: “Giao dịch dân sự vi phạm một trong các điều kiện được quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu”.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC