Đề tài Chuẩn đoán vius PMWS bằng kỹ thuật nuôi cấy té bao

Hội chứng còi cọc sau cai sữa là 1 bệnh đang phổbiến trên heo. Những triệu chứng được quan sát lần đầu ởCanada vào năm 1991, từ đó nhiều nghiên cứu đã được ghi nhận. heo nhiễm PMWS trởnên còi cọc sau cai sữa có thểcó hoặc không có biểu hiện khó thở,tiêu chảy, xanh xao, vàng da và có nhiều thay đổi đặc tính mô bệnh học. Dòng circovirusheo dạng 2 , khác với dạng 1 vềmặt kháng nguyên và di truyền, gây ra sựnhiễm bệnh liên tục cho nhiều dòng tếbào heo, lúc đầu được cho là do PMWS. Tuy nhiên những nghiên cứu vềsau cho thấy sựnhiễm trùng chỉ PCV2 thường không gây ra PMWS vì hầu hết heo thí nghiệm được tiêm dòng PCV2 chỉbịlây nhiễm cận lâm sàng. Hơn nữa, 1 cuộc khảo sát đã cho thấy tỷlệ cao heo với kháng thểPCV2 ởnhững nông trại mà PMWS không được ghi nhận. Việc phát hiện PCV2 do đó không đủthuyết phục đểthiết lập cách chẩn đoán PMWS và việc xác định những trường hợp bịPMWS vẫn còn là tranh cãi. Sựchẩn bệnh chính xác cho từng heo hiện nay đang dựa trên tất cả3 điều kiện sau: những dấu hiệu lâm sàng điển hình gồm còi cọc sau cai sữa; những bệnh tích vi thể; phát hiện PCV2 trong những bệnh tích tương ứng. Ởnhững nông trại kinh doanh, PMWS cho thấy sựgia tăng liên tục sốlượng những heo tăng trưởng chậm và không có hiệu quảkinh tế. Do sựchết ởheo tăng cao quá mức so với quá khứnên trong những trường hợp xác định bệnh hiện nay ởmức độ đàn gia súc cũng xem sự chết đó nhưlà 1 tiêu chuẩn quan trọng. Sựphát sinh bệnh của PMWS cũng còn khó hiểu. Những đồng tác nhân gây nhiễm, có thể1 mình hoặc kết hợp, được cho là nhân tốnguy hiểm cho sựphát triển hoặc sựkịch phát của PMWS. Những thí nghiệm với sựlây nhiễm kép đã xác định porcine parvovirus (PPV), virus gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp trên heo ( PRRS), mycoplasma hyopnemoniae nhưlà những đồng tác nhân. Cũng có những bằng chứng cho thấy việc sửdụng

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC