Đề tài Đánh giá tác động môi trường ( giáo trình dùng cho ngành môi trường và quản lý đất đai)

1. Môi trường và ñánh giá tác ñộng môi trường Môi trường là tổng hợp các ñiều kiện bên ngoài có ảnh hưởng ñến một vật thểhoặc một sựkiện nào ñó. Có thểhiểu một cách khác theo ñịnh nghĩa của BộQuốc phòng Hoa Kỳ: “Môi trường bao gồm tất cảmọi yếu tốvà ảnh hưởng của chúng ñến một hệsinh quyển”. Theo luật Bảo vệmôi trường của nước CHXHCN Việt Nam (2003) thì “Môi trường bao gồm các yếu tốtựnhiên và yếu tốvật chất nhân tạo quan hệmật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng ñến ñời sống, sản xuất, sựtồn tại phát triển của con người và thiên nhiên” (Ðiều 1 Luật BVMT-2003). Môi trường theo cách hiểu tương ñối có thểlà rất rộng (nhưvũtrụ, trái ñất, không khí.) và cũng có thểlà hẹp (môi trường nước bềmặt, môi trường sông, môi trường sống trong căn hộ.) Các yếu tốtạo ra môi trường ñược gọi là thành phần môi trường. Trong khái niệm vềmôi trường ngoài yếu tốtựnhiên, phải luôn luôn coi trọng các yếu tốvăn hoá, xã hội, kinh tế. bởi vì chúng là thành phần hết sức quan trọng tạo ra môi trường sống. Trong một môi trường có thểbao gồm một hay nhiều hệthống sinh vật tồn tại, phát triển và tương tác lẫn nhau. Vì vậy, một hệsinh thái là một hệthống các quần thểsinh vật, sống chung và phát triển trong một môi trường nhất ñịnh, quan hệtương tác với nhau và với môi trường ñó (ñiều 2-9 luật BVMT-2003). Ða dạng sinh học là sựphong phú vềnguồn gen vềgiống, loài sinh vật (ñộng vật, thực vật, vi sinh vật.) và hệsinh thái trong tựnhiên. Sự ña dạng của sinh học nhiều khi ñược xem xét một cách rất tổng quát vềcác hệsinh thái trong một môi trường nghiên cứu. Ða dạng sinh học nhiều khi cũng ñược xem xét hết sức chi tiết, tỷmỉtrong một hệsinh thái - ñó là quá trình xem xét, ñánh giá ñến các loài, giống và kểcả ñánh giá ñặc ñiểm vềdi truyền của chúng (Gen) Môi trường có thành phần hết sức quan trọng, ñó là con người và các hoạt ñộng của con người kểcảtựnhiên và văn hoá - xã hội. Con người, trong quá trình tồn tại và phát triển dù bằng ngẫu nhiên hay cốtình cũng luôn luôn tác ñộng vào môi trường. Ngược lại, môi trường cũng luôn tác ñộng ñến con người. Quá trình phát triển luôn luôn kèm theo sử dụng (ñất, gỗ, nước, không khí, nhiên liệu hoá thạch, tài nguyên các loại ) ñồng thời cũng thải vào môi trường các chất phếthải (chất thải rắn, lỏng, khí từsinh hoạt , từcông nghiệp, từnông nghiệp, giao thông, y tế.). Những chất thải ñó dần dần làm ô nhiễm môi trường. Chính vì vậy, người ta ñã cho rằng: phát triển là ñồng hành với ô nhiễm. Sựphân huỷchất bẩn trong môi trường tựnhiên là một quy luật hàng vạn năm. Quá trình phân hủy chất bẩn nhưvậy nhờtác ñộng rất tích cực của ñất, vi sinh vật, nước, bức xạ mặt trời, ñộng và thực vật các loài. Vì vậy, quá trình ñó ñược gọi là quá trình “tựlàm sạch”. Các quá trình “tựlàm sạch” tuân theo một quy luật riêng của chúng và ứng với một “tốc ñộlàm sạch” xác ñịnh. Nhưvậy, con người muốn tồn tại và phát triển ñược trong môi trường của mình thì nhất thiết phải xác lập tốt mối tương quan giữa phát triển với tựlàm sạch của môi trường. Ðểlàm ñược nhiệm vụtrên, cần hiểu ñược ảnh hưởng của các hoạt ñộng kinh tế- xã hội, hoạt ñộng sản xuất ñến các yếu tốcấu thành môi trường. Ngược lại cũng cần hiểu ñược các phản ứng của môi trường ñến các thành phần môi trường. Quá trình hiểu, xác ñịnh ñánh giá ñó ñược gọi là ñánh giá tác ñộng môi trường (ÐTM hay EIA). Do ñó, Luật BVMT 2003 (Ðiều 2-11) ñã ñịnh nghĩa: Ðánh giá tác ñộng môi trường là quá trình phân tích, ñánh giá, dựbáo ảnh hưởng ñến môi trường của các dựán, quy hoạch phát triển kinh tếxã hội của các cơsởsản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa Giáo trình ðánh giá tác ñộng môi trường 8 học, kỹthụât, y tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và các công trình khác, ñềxuất các giải pháp thích hợp vềbảo vệmôi trường. Vào khoảng cuối những năm 60 của thếkỷ20, khái niệm ñánh giá tác ñộng môi trường ñược hình thành rõ nét và ñược thực hiện ởMỹ. Sang những năm 70 của thếkỷ, ÐTM ñã ñược sửdụng ởnhiều quốc gia như: Anh, Ðức, Canada, Nhật, Singapo, Philippin và Trung Quốc. ỞViệt Nam , những vấn ñềmôi trường bức xúc bắt ñầu xuất hiện khá rõ từnăm 1990. Vì vậy, khái niệm ñánh giá tác ñộng môi trường (ÐTM-EIA) không còn là khái niệm riêng trong ñội ngũcác nhà khoa học nữa. Khái niệm ÐTM ñã chuyển vào ñội ngũcác nhà quản lý và khoa học - kỹthuật rộng hơn ñồng thời ñã ñược ñưa vào Luật BVMT (1994). Trong luật BVMT (2003) Nhà nước quy ñịnh một số ñiều chặt chẽlà: • Ðiều 17: Tổchức, cá nhân quản lý cơsởkinh tế, khoa học, kỹthuật, y tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng ñã hoạt ñộng từtrước khi ban hành luật này phải lập báo cáo ñánh giá tác ñộng môi trường của cơsởmình ñểcơquan quản lý Nhà nước vềbảo vệ môi trường thẩm ñịnh. • Ðiều 18: Tổchức, cá nhân khi xây dựng, cải tạo vùng sản xuất, khu dân cư, các công trình kinh tế, khoa học, kỹthuật, y tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, chủdự án ñầu tưcủa nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài, chủdựán phát triển kinh tế- xã hội khác phải lập báo cáo ÐTM ñểcơquan quản lý Nhà nước vềmôi trường thẩm ñịnh. Như vậy, thực hiện một ÐTM cho dựán ñã trởthành yếu tốrất quan trọng trong khoa học môi trường, hơn thếnữa trởthành yếu tốbắt buộc trong công tác quản lý Nhà nước vềBVMT. Do hoàn cảnh kinh tếchưa mạnh nên từkhoảng 1985 ñến 1992 các dựán lớn và trung bình của ta vềcơbản chưa ñược lập báo cáo ÐTM mà chỉ ñềcập sơbộ ñến một số vấn ñềmôi trường có thểxảy ra. Sau 1992 một sốdựán quan trọng ñã ñược ñánh giá tác ñộng môi trường nhưthuỷ ñiện Sơn La, Sông Hinh hoặc nhà máy mía ñường Ðài Loan (Thanh Hoá), nhiều công trình khoan thăm dò dầu khí cũng ñược lập báo cáo ÐTM. Gần ñây, các dựán ñược lập báo cáo ÐTM ngày càng nhiều như: Ðường mòn HồChí Minh, khu công nghiệp Dung Quất, cảng nước sâu Cái Lân và nhiều cầu ñường khác. 2. Các yêu cầu ñối với công tác ñánh giá tác ñộng môi trường Với nội dung, mục ñích và ý nghĩa như ñã nói trên, công tác ÐTM nói chung và báo cáo ÐTM nói riêng, phải ñạt ñược những yêu cầu sau: 1.Phải thực sựlà một công cụgiúp cho việc thực hiện quyết ñịnh của cơquan quản lý. Thực chất của ÐTM là cung cấp thêm tưliệu ñã ñược cân nhắc, phân tích ñểcơquan có trách nhiệm ra quyết ñịnh có ñiều kiện lựa chọn phương án hành ñộng phát triển một cách hợp lý, chính xác hơn. 2.Phải ñềxuất ñược phương án phòng tránh, giảm bớt các tác ñộng tiêu cực, tăng cường các mặt có lợi mà vẫn ñạt ñược ñầy ñủcác mục tiêu và yêu cầu của phát triển. Có thểnói rằng, không có hoạt ñộng phát triển nào có thể ñáp ứng những lợi ích và yêu cầu cấp bách trước mắt của con người mà không làm tổn hại ít nhiều ñến TNMT. ÐTM phải làm rõ ñiều ñó, không phải ñểngăn cản sựphát triển kinh tế- xã hội mà ñểtạo ñiều kiện thuận lợi nhất cho các hoạt ñộng ñó. Vì vậy ÐTM có trách nhiệm nghiên cứu, góp phần ñề xuất biện pháp bảo vệ, thậm chí cải thiện ñược tình hình TNMT. Khi phương án ñã ñềxuất không thểchấp nhận ñược vì gây tổn hại quá lớn vềTNMT thì phải ñềxuất phương hướng thay thếphương án. 3.Phải là công cụcó hiệu lực ñểkhắc phục những hiệu quảtiêu cực của các hoạt ñộng ñã ñược hoàn thành hoặc ñang tiến hành. Trong thực tế, nhất là tại các nước ñang phát triển nhiều hoạt ñộng phát triển ñã ñược tiến hành hoặc ñã ñược hoàn thành, nhưng lúc ñềxuất chưa hềcó ÐTM. Do ñó, hình thành những tập thểkhoa học có ñủkiến thức, kinh nghiệm và phương pháp luận cần thiết, phù hợp với nội dung và yêu cầu của ÐTM trong từng trường hợp cụthểlà hết sức quan trọng. Giáo trình ðánh giá tác ñộng môi trường 9 4.Báo cáo ÐTM phải rõ ràng, dễhiểu. Khoa học môi trường rất phức tạp, nội dung khoa học ñược xem xét trong ÐTM rất phong phú. Tuy nhiên người sửdụng kết quảcuối cùng của ÐTM có khi không phải là nhà khoa học, mà là người quản lý. Vì vậy báo cáo ÐTM phải rõ ràng, dễhiểu, dùng ngôn ngữ, thuật ngữphổthông. Cách diễn ñạt và trình bày phải cụthể, thiết thực, có sức thuyết phục, giúp cho người quyết ñịnh nhìn thấy vấn ñề một cách rõ ràng, khách quan, từ ñó quyết ñịnh ñúng ñắn, kịp thời. 5.Báo cáo ÐTM phải chặt chẽvềpháp lý, báo cáo ÐTM không những là cơsởkhoa học, mà còn là cơsởpháp lý giúp cho việc quyết ñịnh những vấn ñềquan trọng vềphát triển kinh tế- xã hội liên quan ñến ñời sống vật chất, tinh thần của nhân dân trong cảnước, hoặc một vùng, một ñịa phương. 6.Hợp lý trong chi tiêu cho ÐTM. ÐTM là việc làm tốn kém, ñòi hỏi nhiều thời gian. Kinh nghiệm ởcác nước ñã phát triển cho thấy việc hoàn thành một báo cáo ÐTM ởcấp quốc gia ñòi hỏi thời gian từ10 ñến 16 tháng, chi phí từhàng chục nghìn ñến hàng triệu ñô la.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC