Đề tài Giám hộ, đại diện trong Bộ luật dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự

Giám hộ là chế định quan trọng trong Bộ luật dân sự (BLDS) nhằm mục đích để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự. Chế định giám hộ được quy định ở mục 4, Chương III Phần thứ nhất BLDS năm 2005 với 16 điều (từ Điều 58 đến Điều 73), với những sửa đổi bổ sung quan trọng so với các điều của tương tự của BLDS 1995. 1.1. Khái niệm giám hộ Điều 58 BLDS 2005 đã đưa ra khái niệm giám hộ: “ Giám hộ là cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi ( NLHV) dân sự (sau đây gọi chung là người được giám hộ) So với khái niệm giám hộ quy định tại Điều 67 BLDS 1995 thì khái niệm giám hộ nêu ở Điều 58 BLDS 2005 ngoài việc sửa đổi từ ngữ còn sửa nội dung câu “người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình” bằng câu “người mất NLHV dân sự”. Việc thay đổi này làm cho điều luật vừa ngắn ngọn vừa thể hiện được sự chặt chẽ và chính xác hơn. Vì khái niệm mất NLHV dân sự đã được quy định tại Điều 24 BLDS 1995, Điều 22 BLDS 2005. Vì vậy điều luật không cần mô tả lại những biểu hiện của người mất NLHV dân sự. 1.2 Giám sát việc giám hộ Giám sát việc giám hộ quy định tại Điều 59 BLDS 2005 so với Điều 68 BLDS 1995 thì được sửa đổi, bổ sung sau. Điều 59 BLDS 2005 quy định: 1. Người thân thích của người giám hộ có trách nhiệm cử người đại diện làm người giám sát việc giám hộ để theo dõi đôn đốc kiểm tra người giám hộ trong việc thực hiện giám hộ, xem xét giải quyết kịp thời những đề nghị, kiến nghị của người giám hộ liên quan đến việc giám hộ. 2. Trong trường hợp không có người giám hộ thân thích của người được giám hộ hoặc những những người thân thích không cử được người giám sát việc giám hộ thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của người giám hộ cử người giám sát việc giám hộ. Quy định trên đây của Điều 59 BLDS 2005 hợp lý hơn so với quy định tại Điều 68 BLDS 1995. Điều 68 BLDS 1995 quy định: Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người giám hộ cư trú và người cử người giám hộ có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, kiểm tra người giám hộ trong việc thực hiện giám hộ. Quy định của Điều 68 BLDS 1995 không phân biệt rõ được trách nhiệm giám sát việc giám hộ của Uỷ ban nhân dân cấp xã với người cử người giám hộ. Do đó không thể không xảy ra tình trạng Uỷ ban tưởng đã có người cử người giám hộ giám sát việc giám hộ, ngược lại người cử người giám hộ lại cho rằng đã có Uỷ ban giám sát hoặc tình trạng đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Hơn nữa việc giám hộ chỉ đặt ra đối với những cá nhân cụ thể, do đó trách nhiệm giám sát việc giám hộ trước hết phải là của những người thân của người được giám hộ, đây là vấn đề đạo lý của cuộc sống, chỉ khi không có người thân của người được giám hộ làm được việc đó, mới đòi hỏi đến trách nhiệm của cộng đồng mà Uỷ ban nhân dân cấp xã là người đại diện. Điều 59 BLDS 2005 còn dùng từ “kiến nghị” của người giám hộ thay cho từ “khiếu nại” ở Điều 68 BLDS 1995. Tuy chỉ là một sửa đổi nhỏ nhưng rất chính xác và làm rõ được bản chất của sự việc. Ngoài ra, Điều 59 BLDS 2005 còn bổ sung thêm khái niệm người thân thích “Người thân thích của người được giám hộ là vợ, chồng, cha, mẹ, con của người được giám hộ; nếu không có ai trong số những người này thì người thân thích của người được giám hộ là ông, bà, anh ruột, chị ruột, em ruột của người được giám hộ; nếu cũng không có ai trong số những người này thì người thân thích của người được giám hộ là bác, chú, cậu, cô, dì của người được giám hộ” và “người giám sát việc giám hộ phải là người có NLHV dân sự đầy đủ” Đây là những bổ sung quan trọng, tránh được tình trạng sau khi có luật lại phải chờ văn bản hướng dẫn mới thi hành được.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC