Đề tài Hoàn thiện các biện pháp phi thuế quan để bảo hộ một số nông sản chủ yếu của nước ta phù hợp với thông lệ quốc tế

Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Thực hiện chủ trương hội nhập quốc tế và khu vực, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN, tham gia AFTA, APEC, ASEM và đang đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Hiện tại, WTO đang chuẩn bị cho Vòng đàm phánthiên niên kỷ với mục tiêu đẩy mạnh tự do hoá th-ơng mại trên toàn thế giới. Tuy nhiên, tự do hoá th-ơng mại là một quá trình lâu dài, gắn chặtvới quá trình đàm phán để cắt giảm thuế quan và hàng rào phi quan thuế. Các nước, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển, một mặt luôn đi đầu trong việc đòi hỏi phải đàm phán để mở cửa thị trường và thúc đẩy tự do hoá thương mại, mặt khác lại luôn đưa ra các biện pháp tinh vi hơn và các rào cản phức tạp hơn nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp do tính chất nhạy cảm của lĩnh vực này đối với kinh tế, xã hội của các quốc gia. Các n-ớc thành viên của Tổ chức Th-ơng mại Thế giới (WTO) vẫn tiếp tục khẳng định những nỗ lực thiết lập một hệ thống th-ơng mại về nông sản công bằng và theo h-ớng thị tr-ờng và đã thực hiện nhiềuchính sách cải thiện về tiếp cận thị tr-ờng, giảm trợ cấp xuất khẩu và giảm các hỗ trợ trong n-ớc gây ảnh hưởng xấu đến thương mại hàng nông sản, thựchiện thuế quan hoá các rào cản phi thuế quan và cắt giảm dần thuế quan theo lộ trình đã cam kết tại Hiệp định Nông nghiệp của WTO. Tuy nhiên, nhiều biện pháp bảo hộ mới lại được áp dụng đối với hàng nông sản theocác Hiệp định có liên quan nh- Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại, Hiệp định về kiểm dịch động thực vật, Hiệp định về trợ cấp vàcác biện pháp đối kháng và các quy định quản lý thương mại liên quan đến môi trường, lao động Các nước hoặc các khối nước còn có các quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật cho các mặt hàng cụ thể cũng như các quy định về thủ tục hải quan và nhiều quy định quản lý khác. ởn-ớc ta, Nghị quyết Hội nghị Trung Ương lần thứ 9 (khoá IX) đã xác định phải chuẩn bị tốt các điều kiệnđể sớm gia nhập WTO vào năm 2005. Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết,chúng ta phải mở cửa thị trường, tiến hành tự do hoá nhiều hoạt động kinh tế, từng b-ớc tự do hoá thương mại, giảm dần mức thuế suất, mở cửa thị tr-ờng hàng nông sản nhiều hơn, các chính sách trợ cấp hoặc hỗ trợ cho nông dân không phù hợp với quy định của WTO cũng dần phải loại bỏ. Khi đó, Việt Nam vẫn phải xây dựng và hoàn thiện một số hàng rào phi thuế quan để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và bảo hộ sản xuất trong nước. Có thể nói, một trong những vấn đềkhó khăn nhất khi đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam hiện nay làlĩnh vực nông nghiệp và yêu cầu mở cửa thị tr-ờng nông sản trong nước. WTO và các nước thành viên khi đàm phán đều yêu cầu Việt Nam giảm thuế nhập khẩu nông sản xuống rất thấp, dỡ bỏ hàng rào bảo hộ cho nông sản trong nước. Trong khi chúng ta lại là n-ớc đang phát triển, tỷ lệ dân cư phải dựa vào sản xuất nông nghiệp còn cao, nền nông nghiệp của Việt Nam không chỉ đơn thuần là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề ổn định xã hội. Việc thực hiện các camkết của WTO theo h-ớng cắt giảm thuế, loại bỏ hàng rào phi thuế và cắt giảm các khoản trợ cấp cho nông nghiệp sẽ ảnh hưởng đến thương mại và cung cầu một số ngành hàng nông sản của Việt Nam, tạo cơ hội cho hàng hoá từ bên ngoài, đặc biệt là các nước xuất khẩu nông sản lớn thâm nhập thị trường Việt Nam với giá rẻ hơn, gây sức ép cạnh tranh lên các ngành hàng nội địa và có thể tác động tới các vấn đề xã hội như công ăn việc làm, nghèo đói, bất bình đẳng thu nhập Vì vậy, một chính sách bảo hộ hợp lý sản xuất nông nghiệp trong nước vẫn rất cần thiết. Điều quan trọng là các hình thức bảo hộ đó được xây dựng phù hợp với các qui định của WTO và thông lệ quốc tế, không tạo ra những trở ngại cho quá trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam. Muốn vậy, cần phải có sự nghiên cứu toàn diện về các biện pháp phi thuế quan phù hợp với các qui định của WTO để xây dựng được rào cản hữu hiệu bảo hộ sản xuất trong nước, phù hợp với chủ trương của Đảng về bảo hộ có sự lựa chọn, có thời hạn, có điều kiện và phù hợp với các thông lệ quốc tế. Là một vấn đề cấp thiết nhưng hiện nay mới chỉ có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này nh-: 1. Bảo hộ hợp lý sản xuất và mậu dịch nông sản trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế (Đại học Ngoại thương). 2. Nghiên cứu những vấn đề môi trường trong các hiệp định của Tổ chức thương mại thế giới, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và giải pháp đối với Việt Nam. 3. Cơ sở khoa học áp dụng thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp đối với hàng nhập khẩu vào Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế (Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Thương mại). 4. Hệ thống rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế, những giải pháp để vượt rào cản của các doanh nghiệp Việt Nam (Đại học Thương mại). 5. Cơ sở khoa học định h-ớng các biện pháp phi thuế để bảo hộ sản xuất hàng hoá ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế thương mại thế giới (Vụ Kế hoạch thống kê, Bộ Thương mại). 6. Nghiên cứu các rào cản trong thương mại quốc tế và đề xuất các giải pháp đối với Việt Nam (Viện Nghiên cứu thương mại, Bộ Thương mại). Ngoài ra, còn có một số chuyên đề nghiên cứu, bài báo đăng trên các tạp chí và một số tham luận tại Hội thảo khoa học về các biện pháp phi thuế, về bảo hộ sản xuất trong nước Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về các rào cản phi thuế quan trong thương mại hàng nông sản để làm cơ sở cho việc hoàn thiện hệ thống hàng rào phi thuế quan nhằm bảo hộ hàng nông sản của Việt Nam trong tiến trình hội nhập. ở nước ngoài, phần lớn các nước tham gia GATT/WTO đều có sự đầu tư và nghiên cứu xây dựng rào cản cho họ.Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu và các quy định của các khối nước hoặc của từng nước còn chưa được phân tích một cách có hệ thống để rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Từ những lý do nêu trên, Bộ Thương mại đã cho phép chúng tôi nghiên cứu triển khai đề tài cấp Bộ với tiêu đề: “ Hoàn thiện các biện pháp phi thuế quan để bảo hộ một số nông sản chủ yếu của nước ta phù hợp với thông lệ quốc tế”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài -Tổng hợp và khái quát các biện pháp phi thuế quan theo quy định của WTO và thông lệ quốc tế để bảo hộ hàng nông sản. - Đánh giá thực trạng các biện pháp phi thuế quan đ-ợc áp dụng để bảo hộ hàng nông sản Việt Nam hiện nay. - Đề xuất định h-ớng xây dựng, hoàn thiện vàáp dụng các biện pháp phi thuế quan để bảo hộ một số nông sản chủ yếu của Việt Nam cho phù hợp với quy định của WTO và thông lệ quốc tế. 11 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài - Đối tượng nghiên cứu là các biện pháp phi thuế quan trong thương mại để bảo hộ hàng nông sản Việt Nam theo quy định của WTO và thông lệ quốc tế. - Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào nghiên cứu việc áp dụng các biện pháp phi thuế quan để bảo hộ một số hàng nông sản. - Phạm vi về không gian, thời gian là các biện pháp phi thuế quan được áp dụng ở Việt Nam trong giai đoạn 1996 đến nayvà đề xuất các biện pháp cho thời kỳ đến năm 2010.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC