Đề tài Kỹ năng của luật sư khi tham gia tranh tụng trong các vụ án tranh chấp đất đai

Ngày 29-12-1987, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII kỳ họp thứ hai đã thông qua Luật đất đai đầu tiên của nước ta. Điều 1 của Luật đất đai năm 1987 đã khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước giao đất cho tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài và sử dụng đất được giao đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả. Nghiêm cấm việc mua, bán, lấn chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức, v.v. Trong quá trình thực hiện Luật đất đai năm 1987, thực tế đã cho thấy các quy định của Luật này quá gò bó, một số quy định không có tính thực thi. Vì vậy, ngày 14-7-1993, Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ ba đã thông qua Luật đất đai năm 1993. Mặc dù đất đai vẫn thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý, nhưng Luật đất đai năm 1993 đã bước đầu công nhận đất đai có giá và đặt quyền sử dụng đất đã giao cho người sử dụng trong trạng thái vận động, chứ không nằm ở trạng thái tĩnh như Luật đất đai năm 1987. Điều này thể hiện ở các quy định của Luật đất đai năm 1993, tại Điều 3 quy định: Nhà nước cho phép hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sự dụng đất Mặc dù vậy, các quy định trong Luật đất đai năm 1993 vẫn chưa thể hiện rõ nội dung, điều kiện, thủ tục thực hiện việc chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất. Trên thực tế, khi chuyển quyền sử dụng đất, các bên chuyển quyền phải làm đầy đủ mọi thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất, yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hơn nữa, các hoạt động chuyển quyền sử dụng đất tuy được thực hiện theo một trình tự, thủ tục nhất định đặc biệt hơn các giao dịch dân sự thông thường khác. Nhưng bản chất của các hoạt động này là các giao dịch dân sự. ngoài ra, trên thực tế đã phát sinh quyền tặng cho quyền sử dụng đất nhưng chưa được quy định chính thức trong Luật đất đai năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2001) cũng như Bộ Luật dân sự năm 1995. Luật đất đai năm 2003 được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 26-11-03 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01-7-04 (thay thế Luật đất đai năm 1993 và các luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai) đã bổ sung đầy đủ hơn các đối tượng là người sử dụng đất và các quyền mà người sử dụng đất được thực hiện. Mặc khác, Bộ Luật dân sự năm 2005 được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ bảy thông qua đã quy định về chuyển quyền sử dụng đất tại phần thứ năm luôn luôn gắn bó chặt chẽ với các quy định của Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong thực tiễn hoạt động tranh tụng các vụ án dân sự của các Luật sư của các Tòa án thì tranh chấp đất đai là hoạt động tranh chấp có nhiều yếu tố phức tạp nhất, chiếm tỷ lệ cao, các đương sự thường khiếu nại quyết liệt, gay gắt, dai dẵn. Trong nhiều quan hệ pháp luật như quan hệ thừa kế, quan hệ ly hôn, chia tài sản chung của vợ chồng, yêu cầu hủy hợp đồng, quan hệ thế chấp vay nợ Mặc dù không trực tiếp yêu cầu giải quyết quan hệ sử dụng đất, nhưng khi xem xét đến các quan hệ liên quan đến quyền sử dụng đất như tài sản thừa kế là quyền sử dụng đất, tài sản của vợ chồng là quyền sử dụng đất phải trở về việc xác định nguồn gốc đất và trong nhiều trường hợp phải dẫn chiếu tới các quy định của pháp luật đất đai để xác định di sản thừa kế là quyền sử dụng đất. Như vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp chấp đai là một quan hệ rất trọng tâm có thể trực tiếp, có thể là sự đan xen giải quyết trong các quan hệ pháp luật khác.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC