Đề tài Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu linh kiện xe gắn máy tại công ty thực phẩm và đầu tư công nghệ

1.Xây dựng bộ phận nghiên cứu thị trường: Công ty xây dựng một bộ phận chuyên nghiên cứu và xữ lý các thông tin từ phòng kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty. Vì hiện nay công ty có mối quan hệ làm ăn lâu dài với thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc nên công tác thu thập thông tin các thị trường khác hiện nay công ty chưa thật sự chú trọng. Nhưng với thực tế bên ngoài như hiện nay, thị trường thế giới biến động phức tạp, nếu công ty không làm tốt công việc này thì sẽ khó khăn cho việc kinh doanh của công ty. Việc lựa chọn thị trường nhập khẩu mới sẽ khó khăn. Do đó công ty cần thiết lập bộ phận này có thể trực tiếp chia sự điều hành của ban giám đốc. Bộ phận này phải có trách nhiệm thu thập xữ lý thông tin, lựa chọn các thông tin cần thiết nhất trình lên ban giám đốc xem xét và chia trách nhiệm trước ban giám đốc về công việc. Cũng có thể bộ phận nghiên cứu thị trường này chịu sự quản lý của phòng kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty. + Với yêu cầu và khả năng hiện nay của công ty: việc thành lập bộ phận nghiên cứu thị trường thuộc sự quản lý của phòng kinh doanh xuất nhập khẩu là hợp lý nhất vì có thể giảm được nhiều chi phí không cần thiết và lợi ích của công việc này cũng rất lớn. Bộ phận này có thể vừa thực hiện công tác thu thập thông tin vừa tham gia hoạt động kinh doanh của công ty. Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu phải trực tiếp tiến hành phân công nhiệm vụ cho bộ phân này: - Thu thập thông tin từ các nguồn. - Xữ lý các thông tin thu thập được và báo cáo các thông tin cho các trưởng ban nhập khẩu của công ty theo định kỳ, theo từng thương vụ hay bất kỳ khi nào được yêu cầu . Tóm lại, với quy mô hiện thời của công ty, việc thành lập một bộ phận nghiên cứu thị trường là một sự cần thiết để đánh giá, thích hợp cho thừng thương vụ cụ thể. Nếu sự trợ giúp của các thông tin không được cung cấp từ các bộ phận này hoạt động của công ty sẽ thiên về cảm hứng, không lường được nguy cơ của thị trường và đối thủ trong cùng nghành, khi công ty đã nâng tầm hoạt động và quy mô của mình hơn nữa thì bộ phận nghiên cứu phải được cải tạo, tổ chức lại . Trong thời đại công nghệ thông tin đi trước thì việc đầu tư cho công việc này là rất cần thiết và có thể thấy rõ được hiệu quả mà thông tin đem lại cho hoạt động thực tế tại công ty. 2. Lựa chọn phương pháp hợp lý Trong công tác thu thập thông tin: Để có được thông tin theo các yêu cầu trên, công ty nên lựa chọn phương pháp htu thập thông tin thích hợp với quy mô và khả năng của công ty, đặt biệt là khả năng tài chính và nhân sự của công ty cung như tình hình nguồn thông tin hiện nay có 2 phương pháp thu thập thông tin mà công ty có thể lựa chọn. - Phương pháp thu thập thông tin tại bàn (1) - Phương pháp thu thập thông tin hiện trường (2) + mỗi phương pháp phải có ưu, nhược điểm của nó. Đối với phương pháp (1) tức là thu thập thông tin tại bàn làm việc thông qua các tài liệu sách báo, các phương tiện thông tin đại chúng chi phí cho việc này tương đối thấp, công ty có thể tiến hành công tác thưòng xuyên và ít gập trở ngại, công ty thu thập rất nhiều thông tin. Bên cạnh những ưu điểm trên phương pháp này cũng còn nhiều hạn chế: - Những thông tin này ít mang tính cập nhật. - Độ thông tin tin cậy chưa cao. + đối với phương pháp (2) tức là phương pháp thu thập thông tin tại hiện trường: Ưu điểm của phương pháp này là: - Những thông tin này mang tính cập nhật cao. - Độ tin cậy chính xác cao. +Bên cạnh đó còn có nhược điểm: - Chi phí công tác này quá lớn. Công ty không thể tiến hành công tác này thường xuyên. Để tiến hành công tác nhập khẩu, công ty phải nắm bắt được một khối lượng thông tin khá lớn mà điều này là rất khó khăn, nhưng nếu không nắm được những thông tin này thì công ty sẽ không biết rõ về đối tác, điểm mạnh và điểm yếu thì tỷ lệ rũi ro trong kinh doanh là rất cao, công ty sẽ khó có khả năng cạnh tranhvà khả năng chiếm lĩnh thị trường. Với thực lực của mình hiện nay, công ty nên chọn phưong pháp thu thập thông tin tại bàn làm việc, phương pháp này vừa hợp với khả năng hiện nay của công ty và nếu biết cách thu thập và sữ lý để khai thác thì sẽ thu được hiệu quả cao các nguồn thông tin chủ yếu. - Nguồn thông tin nội bộ. - Công ty nên tiến hành trao đổi thông tin với các đơn vị kinh doanh của ngành hàng có thể yêu cầu tổng công ty cung cấp thông tin cho công ty nếu cần thiết. - Nguồn thông tin từ các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp - Phong công nghiệp và thưong mại việt nam. - Bộ thương mại. - Trung tâm đầu tư và phát triên ngoại thưong. - Bộ kế hoạch và đầu tư. + Mặc dù thực tế là các tổ chức này hiện nay cũng đang gặp khó khăn trong việc thu thập thông tin từ nước ngoài. + Nguồn thông tin nước ngoài: đây là những thông tin thực tế nhất và mang tính cập nhật, thực tế nhất trong những năm qua, công ty đã vận dụng rất nhiều thông tin loại này nhưng vẫn chưa có quy hoạch, phân loại các mối quan hệ một cách khoa học để có thể sàn lọc những thông tin tin cậy và có giá trị. Sau khi thu thập thông tin từ nước ngoài cán bộ phòng nghiệp vụ của công ty sẽ xem xét và lựa chọn những thông tin nào phù hợp với khả năng cũng như nhu cầu của công ty. + Thông tin thu thập từ Intrnet: Ngày nay Internet đã trỡ thành một môi trường lý tưởng cho các doanh nghiệp, đối với công ty là một doanh nghiệp thương mại kinh doanh xuất khẩu thì việc sữ dụng internet là cần thiết và nó sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao,với những trang thiết bị hiện có. Máy tính, điện thoại, Fax công ty hoàn toàn có khả năng cài đặt Internet mà chi phí cho dịch vụ này cũng không phải là quá cao so với công ty . Công ty có thể sữ dụng Internet để khai thác thông tin về thị trường và thương nhân giao dịch, đồng thời cũng có thể khai thác các thông tin về đối thủ cạnh tranh để phục vụ sản xuất kinh doanh của công ty. + Tóm lại, đối với những phương pháp nghiên cứu tại bàn làm việc thì có rất nhiều cách để khai thác các thông tin, công ty có thể sữ dụng một trong các cách trên hoặc kết ,hợp sữ dung tất cả để có được các thông tin cụ thể nhất, chính xác nhất. Sau khi tiến hành khai thác được những thông tin có liên quan đến hoạt động nhập khẩu tại công ty, bộ phận chuyên trách nhiệm này tiến hành triển khai công việc sữ lý các thông tin này và chọn các thông tin cần thiết lập thành văn bản báo cáo cho trưởng hoặc phó phòng kinh doanh theo từng thương vụ cụ thể. 3. Lựa chọn điều kiện thanh toán: a. Đồng tiền thanh toán: nên chọn đồng tiền USD làm đồng tiền thanh toán chung cho tất cả các thương nhân giao dịch, bởi vì đây là đồng tiền được sững dụng nhiều nhất trong thương mại quốc tế do tính ổn định cao. - Phương thức thanh toán: do điều kiện địa lý ở mỗi nước cách xa nhau, hệ thống pháp luật cũng có sự khác biệt. Cho nên để đảm bảo an toàn trong kinh doanh, công ty nên chọn phương thức thanh toán bằng C/C không huỷ ngang trả chậm, được giảm lãi suất vay vốn hoặc cũng có thể quay vòng vốn nhanh hơn. Tuy nhiên thường giá trả chậm sẽ cao hơn trả ngay hơn, công ty nên cần so sánh mức giá tăng lên và lãi vay sẽ trả cho ngân hàng trong thời gian đó. Nếu mức lãi vây thấp hơn thì chọn phương thức trả ngay, ngược lại công ty nên chọn phương thức trả chậm sẽ có lợi hơn. - Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán được sữ dung rộng rã nhất khác với các phương thức thanh toán khác, phương thưx1 này đảm bảo được nhập hàng đúng số lượng, chất lượng và đúng thời gian. Tuy nhiên phương thức thanh toán này cũng có nhược điểm là: Thanh toán bằng L/C là giao dịch trên giấy tờ bản thân người nhập khẩu không xác định được hàng hoá, những chứng từ do người vận tải cấp là chứng từ để đổi lấy hàng hoá. - Những dữ liệu chỉ là những thông tin theo lời khai của người xuất khẩu, hàng vận tải không thể kiểm tra để đảm bảo chính xác nội dung có đúng hay không. Như vậy khi lập chứng từ cần phải chính xác phù hợp với hoá đơn đúng theo quy định của hợp đồng. - Việc lập chứng từ: Câu chữ trong thư tín dụng viết như thế nào thì chứng từ công ty phải viết như vậy, nhằm tránh sơ hỡ mà một số thương nhân có thể lợi dụng để gây thiệt hại cho ta. + Mặc khác, để đảm bảo an toàn cho công ty thì trong điều kiện của L/C phải yêu cầu là trên giấy tờ. Chứng từ gởi hàng phải kèm theo giấy chúng nhận đã được kiểm tra hàng hoá của một cơ quan hay người kiểm tra trung gian ở nơi xuất khẩu. Công ty phải biết tình trạng tài chính và sự trung thực của người xuất khẩu trước khi ký kết hợp đồng hoặc mở L/C. Báo cáo tài chính của khách hàng ở nước ngoài thường có thể có được qua các ngân hàng, do đó công ty có thể theo dõi và biết rõ hơn về tài chính của đối tác mình. Trong quá trình nhập khẩu, khi trả tiền không nên trả tiền hết, phần còn lại khi nhận hàn xong thì mới trả sau. Trường hợp giao dịch trực tiếp thì phải chia L/C ra làm nhiều vụ để thanh toán. 4. Hoàn thiện công tác nhận hàng và kiểm tra chất lượng hàng: - Công ty nên hoàn thành mọi thủ tục hải quan trước khi tàu đến, nnghĩa là sau khi nhận được “giấy báo tàu đến” bộ phận xuất nhập khẩu đến đại ký tàu biển để nhận lệnh giao hàng D/O kết hợp với một số chứng từ có liên quan khác. - Tờ khai hải quan về linh kiện nhập khẩu, hợp đồng mua bán ngoại thương và tiến hành hoàn tất mọi thủ tục hải quan trong vòng 7 ngày, trước khi tàu đến . Nhờ vậy khi tàu đến, công ty có thể nhận hàng và vận chuyển hàng về kho công ty một cách nhanh chống. - Đầu tư máy móc thiết bị để kiểm tra như: Cân điện tử và máy kiểm tra chất lượng.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC