Đề tài Nghiên cứu khả năng sử dụng khô dầu phộng trong khẩu phần lợn thịt

Nguyên liệu giàu protein là nhân tố quan trọng, không thể thiếu trong thức ăn chăn nuôi nói chung và trong khẩu phần lợn thịt nói riêng. Nhóm thức ăn này chiếm 20 - 30 % thành phần thức ăn hỗn hợp. Để đạt được mục đích chăn nuôi lợn phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng hiện nay thì bên cạnh việc tạo ra giống mới, giống cải tiến cho năng suất cao, tỷ lệ nạc nhiều chúng ta cũng phải tạo nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng, rẻ tiền và được cân bằng đầy đủ các thành phần dinh dưỡng phù hợp với mục đích sản xuất của từng loại lợn. Tuy nhiên phần lớn các nguyên liệu giàu protein lại có giá thành rất cao vì hầu hết nguyên liệu là khô dầu đậu nành và bột cá chúng ta phải nhập khẩu từ nước ngoài. Câu hỏi đặt ra là: ‘‘Tại sao nước ta là một nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới, thế nhưng hàng năm vẫn phải nhập một lượng lớn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi’’. Vậy để giảm giá thành thức ăn thì thiết yếu cần thiết tập trung nghiên cứu sử dụng nguồn thức ăn giàu protein tại chỗ, sẵn có để thay thế một phần nguyên liệu thức ăn nhập ngoại. Một trong số đó là khô dầu đậu phộng, đây là nguồn thực liệu giàu đạm, khoảng 45,6% (A.Baltal, 2005), nhưng hầu như không được sử dụng trong chăn nuôi. Theo tổng cục thống kê năm 2006 thì diện tích và sản lượng đậu phộng ở Việt Nam tương ứng khoảng 246,7 nghìn ha và 462,5 nghìn tấn, chỉ cần ước tính 40% trong số đó sau khi ép dầu cũng đã cho hàng trăm nghìn tấn khô dầu phộng. Từ trước đến nay trong quan điểm của các nhà chăn nuôi thì khô dầu phộng rất dễ bị nhiễm Aflatoxin, trung bình khoảng 1200ppb (Trần Văn An, 1991). Aflatoxin cao trong thức ăn dễ gây đắng, làm giảm tính thèm ăn, mặt khác còn có thể gây hại cho vật nuôi nên phần lớn khô dầu phộng chỉ dùng làm phân bón, rất lãng phí. Dù vậy, nếu chúng ta tìm cách hạn chế tối đa sự phát triển của Aflatoxin, thì đây lại là một nguồn thực liệu giàu protein mà lại rất rẻ tiền, thậm chí giá thành chỉ bằng ½ giá khô dầu đậu nành nhưng hàm lượng đạm lại tương đương. Vì những hạn chế do Aflatoxin gây ra nên việc sử dụng khô dầu phộng trong khẩu phần không đạt được kết quả như mong đợi. Để giải quyết vấn đề độc tố nấm mốc trong khô dầu phộng nói riêng và các thực liệu khác nói chung có nhiều cách, phương pháp khử độc tố bằng NH 3 dưới áp suất cao đã được Dollear và Gardner thực hiện từ năm 1966. Các tác giả này đã sử dụng khí ammoniac dưới áp suất 1,5 - 3 bars để khử độc bánh dầu phộng và bánh dầu hạt bông. Sự phá hủy gần như hoàn toàn Aflatoxine trên đậu phộng được thực hiện bởi Dollear và CTV (1968). Ở Pháp kỹ thuật này được thử trên bánh dầu phộng từ năm 1972 bởi Prevol. Tuy nhiên phương pháp xử lý này làm tổn hại đến acid amin chứa lưu huỳnh trong thức ăn

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC