Đề tài Nghiên cứu về chế biến lúa gạo cho xuất khẩu ở đồng bằng sông Cửu Long

Qua nghiên cứu cho thấ y công suất/ngày của các nhà máy biến thiên từ 30 tấn cho đến 500 tấn/ngày, trung bình là 170,2 tấn/ngày. Có 20% nhà máy hoạt động vượt công suất lý thuyết/năm, từ 130 - 141%. Hầu hết số nhà máy còn lại chỉ hoạt động dưới mức công suất lý thuy ết/năm. Lượng lúa xay chà hàng ngày của các nhà máy biến thiên từ 6 tấn – 500 tấn/ngày, trung bình là 136 tấn/ngày. Tỷ lệ gạo lức thu hồi cao nhất trong vụ Đông xuân (ĐX), kế đến vụ Thu Đông (TĐ) và sau cùng là vụ Hè Thu (HT), tương ứng là 73,44%; 71,67% và 68,81%. Đối v ới giống lúa IR 50404 cho tỷ lệ gao nguyên thu hồi cao nhất trong các giống hiện nay. Độ ẩm lúa khi đưa vào xay chà biến thiên từ 15% đến 18%. Độ ẩm lý tưởng cho lúa đưa vào xay chà là 16%. Hiện trạng về tiêu thụ sản phẩm phụ trấu chưa có đầu ra ổn định và có lợi cho nhà máy, người tiêu thụ và môi trường. Đối với loại giống lúa có chất lượng thấp (ví dụ IR 50404, OM 576), có t ỷ lệ trong tổng số lúa được xay chà biến thiên từ 10-80%, trung bình là 48%. Giống lúa có chất lượng trung bình có tỷ lệ trung bình là 35%. Giống lúa chất lượng cao trung bình chỉ 20%. Nghiên cứu đã tổng hợp thành 11 khó khăn chính đối v ới nhà máy trong quá trình hoạt động chế biến lúa gạo cho xuất kh ẩu và 10 ý kiến quan trọng kiến nghị nhằm cải thiện và phát triển ngành chế biến lúa gạo cho xuất kh ẩu ở vùng đông bằng sông Cưu Long (ĐBSCL).

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC