Đề tài Phân tích lợi thế cạnh tranh của gỗ và các sản phẩm gỗ Việt Nam so với trung quốc xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ

Theo định nghĩa của hiệp hội Lâm sản và gỗ Việt Nam thì gỗ và các mặt hàng từ gỗ nói chung và dành cho xuất khẩu nói riêng được phân loại thành sản phẩm gỗ nguyên liệu và sản phẩm gỗ thành phẩm. Gỗ nguyên liệu là những sản phẩm gỗ được xuất khẩu dưới hình thức: - Gỗ tròn đặc: là cây gỗ tự nhiên được bóc tách lớp vỏ cây và lớp gần bên ngoài, vẫn còn giữ được hình trụ tròn của khối gỗ. - Gỗ xẻ đặc: là gỗ tự nhiên sau khi bóc tách lớp vỏ cây thì được xẻ thành dạng thanh dài, mặt cắt hình vuông hay chữ nhật và có thể có độ dày mỏng khác nhau. - Gỗ ghép: được sản xuất bằng cách tận thu gỗ vụn thải ra trong quá trình chế biến gỗ tự nhiên, trên bề mặt có thể được dán lớp ván Veneer thì kiểu dáng và chất lượng có thể tương đương gỗ đặc nhưng giá thành có thể rẻ hơn đến 40% - Ván lạng Veneer: sản xuất từ cây gỗ tròn (gỗ địa phương hay các dòng gỗ tròn cao cấp nhập khẩu) bằng phương pháp lạng mỏng, độ dày chỉ khoảng vài dem (1 dem = 0,1mm) nhưng vẫn giữ lại được những đường nét vân gỗ tự nhiên. - Ván nhân tạo/ ván ép: có cái loại phổ biến như: ván MDF – sử dụng cây cao su nghiền ra, tẩm sấy và ép lại thành tấm; ván HDF cao cấp hơn, nguồn gốc từ gỗ tạp nghiền, độ ép chặt hơn, gáy tấm ván trông mịn hơn so với ván MDF; ván Okal – sử dụng dăm gỗ tạp và mạt cưa ép thành tấm nhưng kết cấu xốp chứ không kết chặt như 2 loại trên. Tát cả các loại ván trên thường được dán lớp Veneer lên bề mặt để có được bề mặt gỗ tự nhiên. Việt Nam có thể tự sản xuất hay nhập những loại ván nhân t ạo này từ Trung Quốc (giá rẻ và chất lượng cũng kém bền do lớp Veneer quá mỏng), hay Thái, Malaysia (giá đắt hơn 40% với lớp Veneer dày hơn từ 3 – 6 lần)

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC