Đề tài Phương pháp phân tích địa hóa dầu khí

Vào những năm đầu của thế kỷ XX, ng-ời ta tìm dầu theo biểu hiện trên mặt. Theo đó, những khu vực có nhiều điểm lộ khí/dầu chính là những khu vực có tàng trữ dầu khí d-ới sâu. Càng về sau, với sự phát triển của nghiên cứu địa chấn phản xạ và những hiểu biết nhiều hơn về dầu khí, công tác khoan dầu khí h-ớng theo quan điểm “nếp lồi”. Tuy nhiên, trong thực tế tìm kiếm thămdò dầu khí theo quan điểm “nếp lồi” đã có nhiều giếng khoan không tìm thấy dầu. Điều đó buộc các nhà tìm kiếm thăm dò phải quan tâm đến nguồn cung cấp dầu khí vào các nếp lồi cũng nh- những điều kiện hình thành và bảo tồn các tích tụ đó. Một trong những nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ vấn đề về nguồn cung cấp sản phẩm chính là mô hình địa hóa đá mẹ. 1. Những khái niệm chung Để đánh giá đá mẹ, tr-ớc hết cần thống nhất những khái niệm chung về đá mẹ và các chỉ tiêu đánh giá chúng. Theo Vasoievich, một tập trầm tích đ-ợc coi là đá mẹ khi có đủ độ giàu vật chất hữu cơ (VCHC), thể tích đá phải đủ lớn để có thể sinh ra l-ợng hydrocacbon đủ để tích tụthành mỏ. Hiện nay, những nghiên cứu tìm kiếm thăm dò dầu khí nói chung và nghiên cứu đá mẹ nói riêng đã tập trung vào những khía cạnh cụ thể và chi tiết hơn để đánh giá đá mẹ ở những cấp độ khác nhau. Đá mẹ sinh dầu khílà một tập trầm tích hạt mịn đủ độ giàu VCHC (TOC>0.5%,Wt đối với trầm tích lục nguyên; TOC>0.25%,Wt đối với trầm tích cacbonate), đã sinh và tách đ-ợc dầu/khí đủ để hình thành những tích tụ dầu khí. Để đánh giá tiềm năng sinh của một tầng đá mẹ, độ giàu VCHC thôi ch-a đủ mà còn cần quan tâm tới bản chất của VCHC và mức độ biến đổi của chúng. Một trong những tiêu chí để đánh giá bản chất của VCHC là loại kerogen trong đá mẹ.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC