Đề tài Thực tập tại Nhà máy Cơ khí 120

Nhà máy Cơ khí 120 hình thành và phát triển đã được gần 60 năm. Trong quá trình đó, Nhà máy đã có 4 lần đổi tên và có 3 tên gọi khác nhau gắn với những mốc lịch sử khác nhau: - Tiền thân là Nhà máy GK 120, thuộc Tổng công ty Cơ khí Việt Nam (Tên gọi đầu tiên của Nhà máy Cơ khí 120) được thành lập vào tháng 7 năm 1947 tại chiến khu Việt Bắc. - Năm 1983, do yêu cầu sắp xếp cơ sở sản xuất, Bộ Giao thông vận tải đã ra quyết định số 576/QĐ – TCCB ngày 19 tháng 3 năm 1983 về việc hợp nhất Nhà máy GK 120, Nhà máy X410 và đổi tên thành Nhà máy Cơ khí 120. - Ngày 15 tháng 6 năm 1996 được sự đồng ý của Bộ Giao thông vận tải Nhà máy cơ khí 120 đổi tên thành Công ty Cơ khí 120. - Ngày 15 tháng 9 năm 2003 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 189/2003/QĐ- TTg về việc tổ chức lại Tổng Công ty Cơ khí Giao thông vận tải thành Tổng công ty Công nghiệp ô tô Việt Nam, thí điểm hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con. Tổng công ty Công nghiệp ô tô Việt Nam là công ty được hình thành trên cơ sở tổ chức lại Công ty Cơ khí ô tô 1/5, Công ty Cơ khí ô tô 3/2, Công ty Cơ khí Ngô Gia Tự, Công ty Cơ khí 120, Công ty thương mại và sản xuất vật tư thiết bị GTVT, Công ty Cơ khí ô tô và xe máy công trình, Công ty sản xuất và kinh doanh xe máy, Trung tâm Đào tạo cung ứng lao động ngoài nước và dịch vụ, Văn phòng tổng công ty, Chi nhánh Tổng công ty tại TP. HCM, Trường đào tạo nghề Cơ khí GTVT, Ban quản lý các dự án phát triển Cơ khí GTVT. Theo đó, Tháng 5 năm 2005 Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ra quyết định 3347/QĐ- BGTVT chuyển nguyên trạng Công ty Cơ khí 120 vào Công ty mẹ thuộc Tổng công ty Công nghiệp ô tô Việt Nam và đổi tên thành Nhà máy Cơ khí 120.Và tên gọi Nhà máy Cơ khí 120 vẫn tồn tại từ đó tới nay. Quá trình phát triển của Nhà máy Cơ khí 120 có thể chia thành hai giai đoạn: + Giai đoạn từ năm 1947 đến 1986: Hoạt động sản xuất kinh doanh của Nhà máy gặp nhiều khó khăn do chiến tranh và công cuộc khôi phục sau chiến tranh. Máy móc thiết bị cũ kỹ, nhiều bộ phận bị hư hỏng, độ chính xác kém và không có phụ tùng thay thế. Trong giai đoạn này, Nhà máy sản xuất các loại phụ tùng, phụ kiện, đầu máy, toa xe cho ngành đường sắt với sản lượng hàng trăm tấn/năm. Đến năm 1977 các sản phẩm chủ yếu là các sản phẩm kết cấu thép phục vụ thi công cầu, sửa chữa xe máy công trình cũng như các loại dầm cầu phục vụ cho tuyến đường sắt thống nhất. Đến năm 1983, sản phẩm chủ yếu vẫn là các sản phẩm kết cấu thép như dầm cầu, phao phà, hàng trăm tấn phụ kiện đường sắt như cọc ray, bu lông, sản xuất phao tạo cầu thủy 2 tấn.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC