Đề tài Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam

Trước khi có Luật Thương mại 2005, hầu như pháp luật nước ta không đề cập đến hình thức kinh doanh mới mẻ này, các doanh nghiệp kinh doanh dưới hình thức nhượng quyền thương mại phải vận dụng các quy định trong pháp luật về dân sự, kinh tế, sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ. do đó, mặc dù hình thức nhượng quyền thương mại đã xuất hiện ở nước ta từ những năm 1990 thế kỷ trước nhưng sự phát triển còn rất hạn chế; đa số công chúng chưa có được sự nhận thức đúng đắn về hình thức kinh doanh mới mẻ này; quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại trong nhiều trường hợp không được tôn trọng. điều đó, đòi hỏi nhà nước phải xây dựng một khuôn khổ pháp lý cho hình thức kinh doanh mới mẻ này. Ngày 14 tháng 06 năm 2005, Luật Thương mại năm 2005 được ban hành trong đó có các quy định về nhượng quyền thương mại. Tiếp đến, Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31 tháng 03 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết hoạt động nhượng quyền thương mại; Thông tư số 09/2006/TT-BTM ngày 25 tháng 05 năm 2006 hướng dẫn đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại. Đây là hai văn bản hướng dẫn khá chi tiết và đầy đủ với việc xác định các vấn đề cơ bản như khái niệm nhượng quyền thương mại, quyền thương mại, điều kiện nhượng quyền thương mại, hợp đồng nhượng quyền thương mại, đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại và các vấn đề tài chính liên quan đến nhượng quyền thương mại. Theo dự báo, trong những năm tới, hoạt động nhượng quyền thương mại sẽ “bùng nổ” ở Việt Nam. Do đó, các bên trước khi thiết lập quan hệ này cần phải tìm hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó có các quy định của pháp luật. Về mặt pháp lý, có những vấn đề cần phải được các bên lưu ý khi thiết lập quan hệ là: (i) Đối với bên nhận quyền: Các quy định cứng nhắc trong các điều khoản về bí mật kinh doanh, sở hữu trí tuệ, thanh toán. sẽ làm hạn chế sự tư vấn, giúp đỡ từ bên ngoài khi gặp khó khăn, tranh chấp; Những điều khoản đơn phương thiếu tính cạnh tranh làm ảnh hưởng đến bên nhận quyền như các điều khoản về cung ứng hàng hoá, dịch vụ chẳng hạn. Điều này sẽ làm mất cơ hội tiếp cận với các hàng hoá, dịch vụ bên ngoài hệ thống nhượng quyền của bên nhận quyền. (ii) Đối với bên nhượng quyền: Trước thực trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ở nước ta hiện nay, các quy định về SHTT trong hợp đồng nhượng quyền thương mại thường nếu không được quy định chặt chẽ có thể bị vi phạm; Khó kiểm soát được hệ thống; Vi phạm cam kết trong hợp đồng.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC