Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng ngoại thương

Công cuộc đổi mới của nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng về kinh tế - xã hội. Chặng đường đổi mới tiếp theo đòi hỏi chúng ta phải tìm tòi, nghiên cứu, tiếp cận và giải quyết nhiều vấn đề mới mẻ và phức tạp của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Trong đó hợp đồng ngoại thương là khâu trọng yếu luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm nhiều nhất. Giai đoạn 1975 - 1985 đất nước thống nhất, chúng ta có điều kiện và khả năng khai thác có hiệu quả các tiềm năng của đất nước để đẩy mạnh ngoại thương phát triển mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật với nước ngoài thu hút vốn và kỹ thuật tiên tiến của thế giới. Bên cạnh đó chúng ta cũng còn gặp nhiều khó khăn bắt nguồn từ chế độ kinh tế của nước nhà, cơ sở vật chất còn nghèo nàn lạc hậu kinh tế hàng hoá chưa phát triển, chưa có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế và còn bị lệ thuộc nhiều vào bên ngoài. Mặt khác do chiến tránh kéo dài đã gây ra những vết thương về kinh tế - xã hội mà hàng thế hệ mới hàn gắn được. Giai đoạn này chúng ta đã thực hiện chế độ độc quyền về ngoại thương- điều này được ghi nhận trong hiến pháp 1980 tại điều 21:"Nhà nước độc quyền quản lý ngoại thương và các quan hệ kinh tế khác". Việc ghi nhận nguyên tắc độc quyền về ngoại thương trong hiến pháp là nền tảng vững chắc cho toàn bộ pháp luật về ngoại thương Việt Nam trong giai đoạn này điểm nổi bật của chế độ này là chỉ các tổ chức ngoại thương của nhà nước mới được quyền kinh doanh xuất nhập khẩu, mọi hoạt động về kinh tế đối ngoại đều do nhà nước quyết định theo chỉ tiêu pháp lệnh do Bộ ngoại thương trực tiếp quản lý điều hành. Bộ ngoại thương đã can thiệp sâu vào các công việc cụ thể của các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu, chính vì vậy đã làm mất đi khả năng sáng tạo tính linh hoạt trong kinh doanh, kết quả là hợp đồng ngoại thương kém hiệu quả. Cuối 1986 thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội Đảng lần thứ VI đề ra, kinh tế đối ngoại đã được coi là mũi nhọn của sự nghiệp đổi mới, xuất khẩu được còn là một trong 3 chương trình kinh tế trọng điểm. Chế độ Nhà nước độc quyền về ngoại thương đã bị bãi bỏ, các hoạt động về kinh tế đối ngoại đã điều chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết cuả nhà nước. Từ năm 1987 chính phủ đã cho phép các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu tuy nhiên doanh nghiệp nhà nước vẫn chiếm ưu thế hơn. Ngày 7/4/1992 HĐBT (nay là chính phủ) đã ban hành nghị định số 114/HĐBT qui định về quản lý nhà nước đối với xuất nhập khẩu. Theo nghị định 114 các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu phải đáp ứng được những điều kiện: Được thành lập theo đúng pháp luật, hoạt động theo đúng ngnàh hàng đã đăng ký, phải có vốn lưu động bằng tiền Việt Nam tương đương với 200.000 USD tại thời điểm đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu, số vốn này phải được xác định về mặt pháp lý. Có thể thấy những yêu cầu để được cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu đã trở thành một cản trở không nhỏ đối với các doanh nghiệp trong nước. Yêu cầu về số vốn không dưới 200.000USD là một sự thách đố đối với các doanh nghiệp, và các nhà doanh nghiệp được cấp giấy phép cũng chỉ được phép XNK mặt hàng đã đăng ký. Do đó đã làm thu hẹp rất nhiều phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp cản trở việc đa dạng hoá các sản phẩm xuất khẩu giảm hiệu quả kinh tế trong hợp đồng ngoại thương.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC