Hiệu lực của ĐƯQT đối với các bên trong trường hợp bảo lưu

Vấn đề bảo lưu điều ước quốc tế trong công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế được quy định như sau: “Bảo lưu điều ước quốc tế là hành động đơn phương của bất kể cách viết hoặc tên gọi thế nào của 1 quốc gia đưa ra khi ký, phê chuẩn, phê duy ệt hoặc gia nhập ĐƯ đó, nhằm qua đó loạitrừ hoặc thay đổi hiệu lực của 1 hoặc một số quyết định của ĐƯ trong việc áp dụng chúng với quốc gia đó”. Luật quốc tế cũng thừa nhận bảo lưu là quy ền của các chủ thể khi tham gia vào điều ước quốc tế nhằm phù hợp với mục đích của việc ký kết các điều ướcquốc tế và đảm bảo lợi ích của các quốc gia thành viên. Tuy nhiên quy ền bảo lưu điều ước quốc tế không phải là tuyệt đối mà nó bị hạn chế trong những trường hợp nhất định. Trên thực tế, có rất nhiều vấn đề nảy sinh liên quan đến bảo lưu điều ước quốc tế và đã được đưa lên Toà án công lý quốc tế để xin ý kiến tư vấn và một trong số đó là trường hợp bảo lưu đối với công ước ngăn ngừa và trừng phạt tội diệt chủng. Công ước về ngăn ngừa và trừng phạt tội diệt chủng bao gồm 19 điều khoản và không có điều khoản quy đ ịnh về bảo lưu. Công ước được thông qua bởi nghị quyết 260(III) A của Đại hội đồng Liên hợp quốc vào ngày 9/12/1948 và có hiệu lực từ ngày 12/1/1951. Tính đến ngày 18/03/1996, đã có 42 nước kí vào công ước và có 142 nước hiện đang là thành viên của công ước.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC