Kế toán vốn bằng tiền

PHẦN I SỰ CẦN THIẾT VỀ KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN Nhằm đáp ứng nhu cầu nền kinh tế thị trường , từ nền kinh tế tạp trung bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường, nước ta đã và đang chuyển bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Do đó việc đòi hỏi, “vốn bằng tiền” trong doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng Như vậy sau khi học song phần lý thuyết ở trường để tiếp tục hoàn thành chương trình nghiệp vụ kế toán cơ bản, đồng thời đem kiến thức ở trường áp dụng với thực tế nhằm giúp cho ta nắm vững nghiệp vụ chuyên môn. Qua đó để hiểu biết thêm và trao đổi khả năng nhạy bắn trước khi ra trường. Vì vậy, được sự phân công của nhà trường và được sự đồng ý của ban lạnh đạo xí nghiệp Phú Điền em được về thực tập tại đơn vị Để phát triển nền ktt thị trường cả nước lành mạnh trong mỗi doanh nghiệp, vốn là nhân tố rất cần thiết để phản ánh tình hình thu chi trong nội bộ, giữa khác hàng và các đơn vị với nhau. Vì vậy dơ phải có một quan điểm đúng đắn, những chiến lược phát triển sáng suốt, những hợp đồng, những lợi thế trong kinh doanh góp phần phát triển nền kinh tế thị trường của chúng ta hiện nay. Trong thời gian thực tập tại xí nghiệp Phú Điền đã giúp cho em nắm bắt được các phương thức hạch toán của doanh nghiệp. Đồng thời củng cố lại nghiệp vụ chuyên môn của mình được vững vàng trên cớ ở hiểu biết của mình. Dưới sự lãnh đạo của nhà trường, thầy cô giáo trong tổ bộ môn kế toán, đặc biệt là sự quan tâm chỉ dẫn nhiệt tình của cán bộ phòng ban trong xí nghiệp nói chung và phòng kế toán nói riêng đã giúp cho em thấy được tầm quan trọng của vốn trong các doanh nghiệp. Vốn là tài sản không thể thiếu được trong các quá trình sản xuất kinh doanh. CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN I/ Khái niệm về vốn bằng tiền 1/ Khái niệm Vốn bằng tiền là một bộ phận của vốn lưu động trong doanh nghiệp là lượng tài sản tồn tại trực tiếp dưới hình thái giá trị. Căn cứ vào phạm vi sử dụng vốn, vốn bằng tiền được chia thành: -Tiền mặt -Tiền gởi Ngân hàng -Tiền đang chuyển Việc quản lý vốn bằng tiền rất dể xảy ra tình trạng tham ô, lưọi dụng mất mát. Vì vậy doanh nghiệp cần phải thực hiện chế độ quản lý chặt chẽ theo đúng chế độ quản lý vốn của Nhà nước để xí nghiệp không rơi vào tình trạng phá sản. 2/ Nguyên tắc của vốn bằng tiền Khi hạch toán vốn bằng tiền phải sử dụng một đơn vị tiền tệ thống nhất đó là đồng Ngân hàng Việt Nam để ghi chép trên sổ sách kế toán. Đối với doanh nghiệp có sử dụng ngoại tệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Ngân hàng Việt Nam theo tỷ giá thực tế do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ để ghi sổ kế toán. Khi nhập ngoại tệ theo tỷ giá nào thì xuất ngoại tệ theo tỷ giá đó. Nếu chênh lệch theo tỷ giá ngoại tệ nhập và tỉ giá ngoại tệ xuất hoặc đánh giá điều chỉnh lại phù hợp với tỉ giá thực tế thì khoản chênh lệch được hạch toán vào TK 413 “chệnh lệch tỷ giá ngoại tệ”. Đồng thời phản ánh ngoại tệ nhập vào và xuất ra được ghi vào tài khoản ngoài bảng cân đối kế toán TK 007 “ngoại tệ ” Đối với vàng bạc, đá quý, kim khí quý phản ánh trên TK vốn bằng tiền, chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp không có chức năng kinh doanh vàng bạc, đá quý, kim khí quý. Đồng thời phản ánh theo dõi số lượng, trọng lượng, quy cách phẩm chất và giá trị của từng loại, giá trị của vàng bạc, kim khí quý, đá quý được tính theo giá thực tế (giá hoá đơn hoặc giá thanh toán). Vàng bạc, đá quý, kim khí quý nhập theo giá nào thì xuất theo giá đó. Khi tính giá xuất của vàng bạc, đá quý, kim khí quý và ngoại tệ có thể áp dụng một trong các phương pháp sau đây: + Phương pháp bình quân gia quyền + Phương pháp tính giá đích danh + Phương pháp nhập trước, xuất trước + Phương pháp nhập sau, xuất trước 3/ Nu của kế toán vốn bằng tiền -Phản ánh kịp thời, đầy đủ, chính xác số liệu hiện có và tình hình luân chuyển của vốn bằng tiền -Theo dõi chặt chẽ việc chấp hành chế độ thu chi và quản lý tiền mặt, tiền gởi Ngân hàng, quản lý vàng bạc, đá quý, kim khí quý , ngoại tệ. II/ Phương pháp kế toán vốn bằng tiền 1/ Kế toán tiền mặt a/ Nguyên tắc hạch toán tiền mặt Khi hạch toán tiền mặt cần tôn trọng các nguyên tắc sau: -Chỉ được hạch toán TK111 “tiền mặt” số tiền Ngân hàng Việt Nam , ngân phiếu ngoại tệ, vàng bạc, đá quý, kim khí quý thậc tế nhập vào và xuất quỹ tiền mặt, đối với những TK thu và nộp ngay vào Ngân hàng không qua quỹ tiền mặt ở đơn vị thì không được hạch toán vào TK 111. -Các khoản tiền mặt, vàng bạc, đá quý, kim khí quý do các doanh nghiệp khác và các cá nhân ký cược, ký quỹ thì việc quản lý và hạch toán như các loại tài sản bằng của doanh nghiệp, đơn vị mình. Riêng vàng bạc, đá quý, kim khí quý trước khi nhập quỹ phải làm đầy đủ các thủ tục về cân, đong, đo, đếm số lượng, trọng lượng và giám định chất lượng, sau đí tiến hành niêm phong và có xác nhận của người ký cược, ký quỹ trên dấu niêm phong. - Khi tiến hành nhập xuất qũy tiền mặt phải có phiếu thu, chi hợp lý hoặc đối với chứng từ nhập, xuất vàng bạc, đá quý, kim khí quý phải có phiếu nhập, xuất theo đúng qui định của hệ thống chứng từ kế toán -doanh nghiệp phải chỉ định người giữ quỹ riêng thủ quỹ là người chịu trách nhiệm vật chất về số tiền mặt tại qũy và chi tiêu tiền mặt hằng ngày tại quỹ. -Kế toán quỹ tiền mặt chịu trách nhiệm mở sổ kế toán quỹ tiền mặt và ghi chép hằng ngày liên tục và theo trình tự phát sinh, theo các khoản thu, chi xuất quỹ tiền mặt, ngân phiếu, ngoại tệ, vàng bạc, đá quý, kim khí quý , tính ra số tiền quỹ ở mõi thời điểm. Riêng đối với các khoản vàng bạc, đá quý, kim khí quý ký quỹ thì phải theo dõi riêng một sổ hay một phần sổ. Thủ quỹ là người chịu trách nhiệm quản lý và nhập, xuất quỹ tiền mặt ngoại tệ, vàng bạc, đá quý, kim khí quý. -Hằng ngày thủ quỹ thường xuyên kiểm kê số tiền mặt thực tế tồn quỹ và tiến hành đối chiếu với số hiệu của quỹ tiền mặt, sổ kế toán quỹ. Nếu có chênh lệch thì kế toán và thủ quỹ phải tiến hành kiểm tra để xác định nguyên nhân và kiến nghị biện pháp để xử lý số chênh lệch, đồng thời thủ quỹ phải báo cáo quỹ về các khoản thu, chi trong ngày. Sang đầu ngày hôm sau báo cáo quỹ kèm với các chứng từ thu, chi được chuyển sang cho bộ phận kế toán quỹ. Kế toán quỹ kiểm tra lại tính hợp pháp của chứng từ rồi tiến hành định khoản và ghi sổ kế toán. b/ Kế toán chi tiết tiền mặt Kế toán căn cứ vào phiếu thu, phiếu chi tiền mặt của các nghiệp vụ phát sinh trong tháng, kèm theo chứng từ gốc có liên quan để tiến hành theo trên sổ quỹ tiền mặt (đầu tháng khi mở sổ kế toán, căn cứ vào số đư của cuối tháng trước của TK 111 để ghi vào số dư tháng này. Cuối tháng khoá sổ và xác định tổng số phát sinh bên nợ, có TK 111). Từ sổ quỹ tiền mặt, kế toán tiến hành lập bảng kê thu chi hằng ngày. Căn cứ từ các bảng kê của tiền mặt được tập hợp hằng ngày để lên chứng từ ghi sổ, căn cứ vào chứng từ ghi sổ để vào sổ đăng ký chứng từ ghi sổ. Sau đó tiến hành ghi vào sổ cái, số liệu ghi trên sổ cái dùng để kiểm tra, đối chiếu với số hiệu trên chứng từ ghi sổ, các sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết. Đến cuối tháng kế toán phải khoá sổ, cộng tổng sổ phát sinh bên nợ vào bên có, tính ra số dư của từng TK để làm căn cứ lập bảng cân đối số phát sinh và báo cáo tài chính.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC