Khảo sát tình hình nuôi rong sụn kappaphycus alvarezii tại Khánh Hòa và tiến hành nuôi thực nghiệm ở các điều kiện khác nhau

Rong Sụn Kappaphycus alvarezii (Doty) là một loài rong biển nhiệt đới, sinh trưởng và có nguồn gốc tự nhiên ở vùng biển Châu Á Thái Bình Dương (Võ Hưng, 1980), đặc biệt là Đông Nam Á. Đây là loài rong biển có giá trị kinh tế cao, có thể chế biến thành các dạng thực phẩm sử dụng trực tiếp từ rong tươi hay đã phơi khô. Nhưng quan trọng nhất là làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Carrageenan. Đây là một loại polysaccharide có tính tạo đông, kết dính và được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực kinh tế như: chế biến thực phẩm, y dược, mỹ phẩm, dược phẩm dệt, giấy, sơn, công nghệ sinh học (Huỳnh Quang Năng, 2005). Sử dụng rong biển làm thực phẩm đã có từ xa xưa, vào thế kỷ thứ 4 tại Nhật Bản và thế kỷ thứ 6 tại Trung Quốc. Ngày nay, bên cạnh hai nước kể trên còn có Hàn Quốc, là ba nước tiêu thụ rong biển làm thực phẩm và nguyên liệu cho các ngành công nghiệp khác lớn nhất trên thế giới. Hàng năm, riêng ba nước này tiêu thụ 6 triệu tấn rong tươi với giá trị ước tính 5 tỉ USD. Trước đây, loài rong Chindrus crispus là nguyên liệu chính để sản xuất Carrageenan và đến khoảng năm 1960 nguồn nguyên liệu tự nhiên này bị cạn kiệt (Mc Hugh, 2002). Đến thập kỷ 70, các nhà khoa học đã tìm ra một loài rong khác có khả năng nuôi trồng để đáp ứng nguồn nguyên liệu đó là Kappaphycus alvarezii và Eucheuma denticulatum. Và kể từ đó, 2 loài này được nuôi trồng chủ yếu để làm nguyên liệu cho việc chiết rút Carrageenan. Chúng bắt đầu được nuôi trồng tại Philippines, sau đó được phát triển tại nhiều nước ở Đông Nam Á và các nước khác như Ấn Độ, Trung Quốc (đảo Hải Nam), châu Phi (Shokita và ctv, 1991; Trono và ctv, 1988). Hiện nay, 2 loài rong kể trên chiếm đến 85% nguồn nguyên liệu để chế biến Carrageenan. Hàng năm, trên thế giới tiêu thụ khoảng 150.000 tấn rong khô cung cấp 28.000 tấn Carrageenan với giá trị 270 triệu USD (Critchley và ctv, 1998). Ven biển các tỉnh phía Nam Việt Nam, tuy đã phát hiện có một số loài rong đỏ (Rhodophyta), là nguyên liệu để chế biến Carrageenan, song số lượng không nhiều và nguồn lợi không đáng kể. Thêm vào đó khả năng phát triển trồng chủ động còn gặp nhiều hạn chế do loài này đòi hỏi các điều kiện sinh thái nghiêm ngặt. Trong khi đó 2 loài rong Sụn tuy chưa phát hiện có mọc tự nhiên ở vùng biển Việt Nam, nhưng các điều kiện môi trường sinh thái cơ bản lại rất thích hợp cho rong Sụn sinh trưởng và phát triển, đặc biệt là vùng biển Nam Trung Bộ và Nam Bộ (Nguyễn Hữu Dinh, 1995). Từ năm 1993, Phân Viện Khoa Học Vật Liệu Nha Trang đã di nhập giống và nghiên cứu di trồng rong Sụn từ Philippines vào vùng biển phía Nam nước ta. Trong 10 năm qua, từ 1 kg giống rong tươi, các nhà khoa học đã nghiên cứu nhân giống, nghiên cứu các đặc tính sinh học, giải pháp kỹ thuật và mô hình trồng rong Sụn ở các loại thủy vực khác nhau. Khánh Hòa với chế độ khí hậu nhiệt đới, vị trí địa lý tự nhiên thuận lợi, diện tích các thủy vực lớn nên rất thích hợp cho việc nuôi trồng và phát triển rong Sụn trên quy mô lớn. Nhờ đó đã tạo ra một định hướng mới trong việc nuôi trồng loại thủy hải sản mới, đồng thời góp phần tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống cho nhân dân lao động nghèo ven biển.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC