Luận án Cải thiện môi trường ñầu tư ở các tỉnh vùng Trung du, miền núi phía Bắc

Theo Nghị ñịnh 92/2006/Nð-CP ngày 7 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thểphát triển kinh tế - xã hội, nước ta ñược chia thành 6 vùng kinh tế - xã hội gồm: vùng trung du, miền núi phía Bắc; vùng ñồng bằng sông Hồng; vùng Bắc Trung bộ và duyên hải; vùng Tây nguyên; vùng ðông Nam bộ và vùng ñồng bằngsông Cửu Long. Vùng trung du, miền núi Phía Bắc bao gồm 14 tỉnh: Hoà Bình, Sơn La, ðiện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Phú Thọ và Bắc Giang. Các tỉnh thuộc khu vực này có ñặc ñiểm chung ñều là tỉnh miền núi, ñịahình phức tạp, ñiều kiện tự nhiên, kết cấu hạ tầng lạc hậu, ñi lại khó khăn,ít thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội hơn các tỉnh ñồng bằng, có nhiều ñồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, trình ñộ dân trí thấp, kinh tế chậm phát triển, ñặc biệt là sản xuất công nghiệp. Cơ cấu kinh tế lạc hậu, chậm chuyển dịch, giá trị sản xuất công nghiệp trong cơ cấu GDP thấp, chỉ ñạt 24,6% năm 2010, trong khi ñó giá trị sản xuất công nghiệp trung bình của cả nước là trên40%. Thu nhập bình quân ñầu người thấp nhất so với cả nước, theo số liệu thống kê năm 2010, thu nhập bình quân ñầu người của cả vùng khoảng 500 USD, trong khi bình quân của cả nước là 1.300 USD. Theo số liệu thống kê, ñến cuối năm 2008, vùng Tây Bắc có tỉ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước là 31,5%, chênh lệch hơn 9,8 lần so với vùng có tỉ lệ hộ nghèo thấp nhất. Hoạt ñộng thuhút ñầu tư trong và ngoài nước ở các tỉnh này còn hạn chế, chưa có những dự án lớn ñóng góp ñáng kể vào ngân sách cho phát triển kinh tế - xã hội cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nguyên nhân chủ yếu của kết quả thu hút ñầu tư còn hạn chế là môi trường ñầu tư ở các tỉnh này chưa thực sự hấp dẫn ñối với các nhà ñầu tư trong và ngoài nước. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và ðầu tư, tính ñến tháng 2 10 năm 2010 cả nước có 249 Khu công nghiệp ñược quyhoạch, với diện tích ñất tự nhiên là 63.173 ha, trong ñó 14 tỉnh trung du, miền núi phía Bắc chỉ có 37 Khu công nghiệp ñược quy hoạch với tổng diện tích ñất tự nhiên là 6.703 ha, chiếm 15% về số lượng Khu công nghiệp ñược quy hoạch và 10,6% diện tích ñất tự nhiên ñược quy hoạch. Một số tỉnh như ðiện Biên, Lai Châu chưa có khu công nghiệp nào ñược ñưa vào quy hoạch phát triển các khu công nghiệp của cả nước. Việc ñầu tư kết cấu hạ tầng cáckhu công nghiệp, tạo quỹ ñất sạch ñể thu hút ñầu tư chậm, do vậy ñiều kiện ñể các tỉnh trung du, miền núi Phía Bắc thu hút các nhà ñầu tư trong và ngoài nước còn gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh ñó kết cấu hạ tầng lạc hậu, ñi lại gặp nhiều khó khăn; tỉ lệ lao ñộng qua ñào tạo còn thấp, nhận thức về thu hút ñầutư chưa cao; năng lực quản lý còn bộc lộ nhiều yếu kém. ðứng trước những vấn ñề khó khăn này, ñể thúc ñẩy phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện ñại hoá, các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc ñặt ra mục tiêu là ñẩy mạnh thu hút ñầu tư. ðể tăng cường thu hút ñầu tư, có nhiều giải pháp ñược ñưa ra, trong ñó giải pháp cải thiện môi trường ñầu tư có tính quyếtñịnh. Vì vậy, ñề tài luận án mà tác giả lựa chọn là: Cải thiện môi trường ñầu tư ở các tỉnh vùng Trung du, miền núi phía Bắc. ðề tài này có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Về lý luận, Luận án khái quát hoá Học thuyết của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, các học thuyết trước Mác và các nghiên cứu trước ñây về vai trò của ñầu tư ñối với việc phát triển kinh tế - xãhội, vai trò của cải thiện môi trường ñầu tư ñối với việc thu hút ñầu tư, ñặc biệt là trong quá trình công nghiệp hoá - hiện ñại hoá hiện nay. Về thực tiễn, luận án chỉ rõ vai trò của việc cải thiện môi trường ñầu tư sẽ là giải pháp hữu hiệu, quan trọng nhất ñể thu hút ñầu tư trong và ngoài nước, góp phần thúc ñẩy kinh tế - xã hội phát triển, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao ñộng, xóa ñói, giảm nghèo.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC