Luận án Cơ sở khoa học v à gi ải pháp thực hiện quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội trong quản lý tài chính của các trư ờng cao đẳng khu vực Tây Bắc

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm v à coi trọng công tác giáo dục và đào tạo. Đại hội Đảng to àn qu ốc lần thứ X đã kh ẳng định: Giáo dục và đào tạo l à qu ốc sách hàng đầu; phát triển giáo dục và đào t ạo là một động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH - HĐH; là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ b ản để phát tri ển xã h ội, tăng trư ởng nhanh và b ền vững. Sau gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đang bước vào th ời kỳ phát triển, việc chủ động và tích cực hội nhập quốc tế đã t ạo th êm nhiều thuận lợi cho quá trình phát triển toàn diện của đất nước , trong đó có giáo dục . Đây là cơ hội, song bên cạnh đó, giáo dục Việt Nam còn đứng trước n hững thách thức, nhất là GDĐH, đó chính là sự bất cập về khả năng đáp ứng của hệ thố ng GDĐH đối với yêu cầu đào tạo nhân lực cho sự nghiệp CNH - HĐH và nhu cầu học tập của nhân dân. Đồng th ời, tư duy giáo dục chậm đổi mới và chưa thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các cơ sở GDĐH chỉ dạy những gì mình có, chưa quan tâm đến nhu cầu của xã h ội. Để thực hiện nhiệ m vụ nặng nề của GD ĐH, đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước, trước yêu cầu hội nhập và bối cảnh toàn cầu hóa, phân cấp quản lý trong giáo d ục là một trong những chủ trương lớn của Chính phủ Việt Nam. Tăng cường phân cấp nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo, thực hiện qu y ền tự chủ và TNXH của các cơ sở giáo dục đào tạo và các cấp quản lý nhà nước về giáo dục . Thực hiện quyền tự chủ và TNXH theo đúng bản chất sẽ tạo ra động lực mang tính đột phá cho việc thực hiện chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam nói chung và đề án cải cách đổi mới GDĐH Việt Nam nói riêng trong những năm tiếp theo. Tuy nhiên ở nước ta , một mặt đang đòi hỏi phát triển lý luận , nhất là cụ thể hóa quyền tự chủ và TNXH của các cơ sở đại học thành các tiêu chí và chỉ số để có thể triển khai trong thực tiễn. Mặt khác, trong một thập niên gần đây, có thể thấy quyền TCTC cùng v ới các quyền tự chủ khác của các trường đã được nới rộng dần, cho th ấy những bước phát triển trong hoạch định chính sách giao quyền tự chủ hoạt động cho các trường và xu hướng n ày rất nhất 2 quán. Song từ Luật đến văn bản dưới luật, cánh cửa dường như v ẫn bị hẹp dần và tự chủ đại học vẫn là nút thắt gây cản trở đáng kể cho hoạt động của các trường. Bên cạnh đó khi được tăng quyền tự chủ, các trường thường lại không thực hiện TNXH tương ứng với quyền tự chủ đ ược trao. Mặc dù điều kiện kinh tế đất n ư ớc còn nhiều khó khăn, song những năm qua Nhà nước vẫn quan tâm, dành m ột tỷ trọng ngân sách đáng kể đầu tư cho giáo dục. Với nguồn ngân sách đó, GD&ĐT đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, trước những y êu cầu phát triển của đất nư ớc c ùng với áp lực về hội nhập kinh t ế quốc tế ngày cà ng tăng, Chính phủ đ ã đề ra những vấn đề then chốt cần tạo b ư ớc đột phá trong phát triển sự nghiệp giáo dục đào t ạo, trong đó việc mở rộng khu vực đào tạo ngoài công lập và chuy ển các c ơ s ở đào tạo công lập hoạt động theo c ơ ch ế hành chính, bao cấp sang c ơ chế tự chủ cung ứng dịch vụ, không bao cấp tràn lan, không vụ lợi. Nghị quyết số 14/2005/NQ -CP của Chính phủ về đổi mới cơ b ản và toàn di ện giáo dục đại học giai đoạn 2006 - 2020 đ ã nêu rõ: Đổi mới cơ ch ế tài chính GDĐH nhằm đa dạng hoá nguồn lực và nâng cao hi ệu quả đầu tư. Với mục ti êu là xây d ựng cơ chế tài chính mới cho giáo dục, nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực c ủa nhà nư ớc, xã h ội để nâng cao chất lượng v à tăng quy mô GD&ĐT, đáp ứng y êu cầu của sự nghiệp CNH -HĐH đất n ước .

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC