Luận án Công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của Thái Lan, kinh nghiệm và khả năng vận dụng vào Việt Nam

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Công nghiệp hóa là con đường tất yếu giúp các nước nghèo nàn, lạc hậu có khả năng thoát khỏi đói nghèo và phát triển. Mấythập kỷ qua, công nghiệp hóa đã diễn ra ở nhiều nước đang phát triển với sự đa dạng về mô hình, cùng với những thành công, hạn chế khác nhau, thậm chí có nước đã phải trả giá do những sai lầm trong công nghiệp hóa. Từ công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu chuyển sang công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa ở một số nước. Thái Lan là một trong những nước đã đạt được những thành công nhất định trong tiến trình công nghiệp hóa và đang vươn lên trở thành nước công nghiệp mới. Tuy nhiên,quá trình công nghiệp hóa của Thái Lan cũng bộc lộ không ít hạn chế. ðặc biệt, sau cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ châu Á năm 1997 TháiLan buộc phải có những chính sách, giải pháp điều chỉnh tình trạng quá nóng của nền kinh tế. Những thành công và hạn chế trong công nghiệp hóa của Thái Lan đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho các nước đang phát triển trong tiến trình công nghiệp hóa đất nước. Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế. Thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo đường lối đổi mới của ðảng đã góp phần tích cực làm thay đổi bước đầu diện mạo kinh tế đất nước. Năm 1986, Việt Nam thực sự bước vào thời kỳ cải cách, mở cửa với phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá, muốn làm bạn với tất cả các nước . Việt Nam nhận thức rõ tầm quan trọng của chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, chiến lược phát triển mang lại thành công và thịnh vượng cho nhiều nước ở vùng ðông Á và ðông Nam Á như Singapore, Malyasia và Thái Lan. Chođến nay, sau hơn 20 năm đổi mới, cải cách và mở cửa, hướng về xuất khẩu, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu, song cũng không ít những thách thức, khó khăn, đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới trên cơ sở chọn lọc những bài học kinh nghiệm của các nước đi trước. Việt Nam và Thái Lan khi bước vào công nghiệp hóa có một số điểm tương đồng về điều kiện kinh tế, tự nhiên, xã hội. Vì vậy, nghiên cứu tiến trình công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của Thái Lan không chỉ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, mà còn có tính tham khảo kinhnghiệm cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay. ðó là lý do nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của Thái Lan, kinh nghiệm và khả năng vận dụng đối với Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu. 2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án Công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu là một chủ đề đãcó nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có giá trị về mặt lý luận cũng như thực tiễn liên quan đến việc tìm kiếm lời giải đáp cho các bài học thành công cũng như thất bại của nhiều nước trên thế giới trong đó có Thái Lan. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về bài học công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của Thái Lan không nhiều, và nếu có thì cũng rất ít công trình nghiên cứu, phân tích, đánh giá hay tổng kết lại những bài học được và chưa được của chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của Thái Lan một cách có hệ thống, toàn diện, sâu sắc và cập nhật. Các công trình nghiên cứu chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của Thái Lan ở Việt Nam cũng không nhiều. Phầnlớn các công trình nghiên cứu chủ đề này xuất hiện dưới dạng thông tinngắn đăng trên các báo, tạp chí nghiên cứu hoặc chỉ được đề cập trong chương sách. Các công trình chỉ tập trung chủ yếu vào khái quát sơ lược về chính sách công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu và cũng chưa có một công trình nào phân tích, đánh giá một cách sâu sắc toàn diện về các chính sách, biện pháp thúc đẩy công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của Thái Lan. Những công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến chủ đề đó là: “Thailand’s industrialization and its consequences”GS.TS Medhi Krongkaew (1995) Nhà xuất Bản (Nxb) Macmillan PressLtd. Nội dung của cuốn sách đề cập tác động của quá trình công nghiệphóa của Thái Lan trong tất cả các lĩnh vực từ nông nghiệp, tài chính, đô thị hóa, môi trường, giáo dục và sức khỏe. Chương 3, tác giả có đề cập công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của Thái Lan. Tuy nhiên, chuơng này tác giả cũng chỉ mới đề cập đến một số chính sách và kết quả, mà chưa đi sâu phân tích tác động của các chính sách đó như thế nào. Hơn nữa, tác giả chỉ giới hạn quá trình công nghiệp hóa đến đầu những năm 1990, do vậy những thông tin số liệu mới vẫn chưa được cập nhật. Tiếp theo là cuốn “Công nghiệp hóa Việt Nam trong thời đại châu Á - Thái Bình Dương” của GS.TS. Trần Văn Thọ, Nhà xuất bản (Nxb) Thành phố Hồ Chí Minh, 1997. Cuốn sách đề cập đến vị trí và vai trò của Việt Nam trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, năng lực xãhội và mô hình phát triển kinh tế Việt Nam. Trong cuốn sách, tác giả cũng đề cập đến kinh nghiệm phát triển của các nước ðông Á và ðông Nam Á trong hoạch định chính sách, tăng cường tính cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu, thuhút đầu tư .v.v.và đề xuất một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Tuy nhiên, công trình này chưa đi sâu phân tích tác động của từng chính sách tới tiến trình phát triển kinh tế và các bài học đề xuất còn khiêm tốn. Công trình “Biến động kinh tế từ ðông Á và con đường công nghiệp hóa Việt Nam” GS.TS Trần Văn Thọ, Nxb Trẻ, 2005. Trong công trình, tác giả phân tích bối cảnh nền kinh tế của Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ XXI và so sánh nó với các nền kinh tế ðông Á và ðông Nam Á. và nêu lên một số bài học kinh nghiệm và gợi ý chính sách đối với Việt Nam. Bài nghiên cứu của Ari Kokko, (2002) “Export led growth in East Asia: Lessons learnt for the Europe’s transition economies”đã đề cập mô hình tăng trưởng hướng theo xuất khẩu của các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, ðài Loan, Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Trung Quốc. Tác giả đã mô tả và phân tích các chính sách phát triển công nghiệp hướng về xuất khẩu của từng nước và đề xuất một số bài học cho các nước chuyển đổi ở Châu Âu. Tuy nhiên, bài nghiên cứu này tác giả chưa phân tích một cách tỉ mỉ các chính sách và biện pháp cụ thể của từng nước, đặc biệt làở Thái Lan. Cuốn “điều chỉnh cơ cấu kinh tế ở Hàn Quốc, Malayxia và Thái Lan” của TS. Hoàng Thị Thanh Nhàn, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2003, trìnhbày khái quát bối cảnh chung dẫn đến việc chính phủ các nước này tiến hànhđiều chỉnh cơ cấu trong các khu vực kinh tế chủ chốt như tài chính, ngân hàng, công ty. Tác giả đề cập đến vai trò của thương mại và đầu tư quốc tế trong quá trình phát triển kinh tế, biện pháp thúc đẩy thương mại và đầu tư. Tuy nhiên, cuốn sách này cũng chỉ dừng lại phần tài chính ngân hàng, và côngty mà chưa đề cập sâu đến tiến trình công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của Thái Lan. 3. Mục đích nghiên cứu của luận án Mục đích nghiên cứu của luận án nhằm làm rõ thực trạng quá trình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu ở Thái Lan. Qua đó, rút ra một số bài học kinh nghiệm và khả năng vận dụng vào tiến trình công nghiệp hóa của Việt Nam hiện nay. 4. ðối tượng và phạm vi nghiên cứu - ðối tượng nghiên cứu: Luận án lấy công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của Thái Lan làm đối tượng nghiên cứu. - Nội dung nghiên cứu bao hàm các chính sách, biện pháp trong tiến trình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu của Thái Lan. - Phạm vi nghiên cứu, luận án tập trung nghiên cứu giai đoạn công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu của Thái Lan từ 1972 đến 2008. 5. Phương pháp nghiên cứu Luận án đi sâu nghiên cứu quá trình công nghiệp hóahướng về xuất khẩu của Thái Lan có sử dụng phương pháp chủ yếu sau: - Phương pháp lịch sử, phương pháp lô gíc, phương pháp đối chứng để so sánh và phân tích. - Phương pháp phân tích thống kê, tổng hợp: thông qua việc sử dụng các số liệu đã được chính thức công bố qua sách, báo, tạp chí, hội thảo vv. từ các tổ chức liên quan Thái Lan, thế giới và Việt Nam. - ðồng thời luận án cũng sử dụng phương pháp kinh tế lượng để đánh giá tác động của công nghiệp hóa đối với nền kinh tế nhằm làm sáng tỏ hơn ưu thế của công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu. Ngoài ra, tác giả còn kế thừa và phát huy có chọn lọc những kết quả nghiên cứu có liên quan của các học giả trong và ngoài nước. 6. ðóng góp mới của luận án Trên cơ sở phân tích tiến trình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu của Thái Lan từ năm 1972, Luận án chỉ ra rằng mô hình công nghiệp hoá của nước này là xuất phát từ một nước nông nghiệp, để tiến tới một nước nông-công nghiệp mới (NAIC), chứ không phải là nước công nghiệp mới (NICs) như các nước ðông Á. Các nước nông-công nghiệp mới này lấy nông nghiệp làm xuất phát điểm, là chỗ dựa cho quá trình CNH, và nông nghiệp, nông thôn, nông dân thật sự luôn được coi trọng trong nhận thức, chiến lược, chính sách và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của các nước này; có sự phát triển tương đối cân bằng giữa nông và công nghiệp trong quá trình CNH; cùng với công nghiệp hoá trong công nghiệp, nông nghiệp cũng được phát triểntheo hướng hiện đại, chuyên canh, và hướng vào xuất khẩu; và Nhà Nước luôn đóng vai trò quan trọng trong định hướng thị trường cho quá trình CNHnông nghiệp. 7. Kết cấu của luận án Ngoài mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, lời mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận án bao gồm 3 chương, như sau: Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu. Chương 2: Quá trình công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của Thái Lan từ năm 1972 đến 2008. Chương 3: Khả năng vận dụng một số kinh nghiệm về công nghiệphóa hướng về xuất khẩu của Thái Lan đối với Việt Nam.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC