Luận án Hiệu lực của hợp đồng theo qui định của pháp luật Việt Nam

Hợp đồng là một trong những phương tiện pháp lý chủyếu đểcá nhân, tổchức trao đổi lợi ích nhằm thỏa mãn các nhu cầu nhân sinh. Hợp đồng cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình vận hành của nền kinh tế, vì nó là hình thức pháp lý cơbản của sựtrao đổi hàng hóa trong xã hội. Trong hầu hết các BLDS cổ điển, hợp đồng “chiếm một vịtrí trung tâm và được chế định với dung lượng lớn nhất so với các chế định khác”do“vai trò trung tâm của nó đối với trật tựthịtrường ”[336, tr.900]. Xã hội càng phát triển, hợp đồng ngày càng được sửdụng nhưlà một chuẩn mực ứng xử phổbiến giữa tưnhân với nhau, giữa tưnhân với cơquan nhà nước, thậm chí là giữa xã hội với nhà nước (nhưquan niệm của Rousseau [229]) trong các lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại và trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống. Ngày nay, chế định hợp đồng và hiệu lực hợp đồng trởthành một chế định quan trọng trong hệthống pháp luật hợp đồng Việt Nam.Vì vậy, đã có nhiều nghiên cứu, phân tích vềchế định hợp đồng, đặc biệt là những vấn đềhiệu lực hợp đồng. Hiệu lực của hợp đồng nói ở đây chính là sựtạo lập ra quyền và nghĩa vụgiữa các bên giao kết [249, tr.24], là hiệu lực ràng buộc nhưpháp luật đối với các bên tham gia [299, tr. 1550]. Một hợp đồng được ký kết, nếu không có hiệu lực thì hợp đồng đó chưa thểtạo ra quyền và nghĩa vụgiữa các bên, chưa ràng buộc các bên với nhau và pháp luật cũng chưa tác động đến cách xửsựcủa các bên theo qui định của hợp đồng đó. Vì vậy, trước khi giao kết hợp đồng, thậm chí ngay trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên tham gia hợp đồng phải biết vềhợp đồng và những qui định của pháp luật liên quan đến tính hiệu lực của hợp đồng. Có thểnói, pháp luật vềhợp đồng và hiệu lực của hợp đồng càng hoàn thiện thì việc giao kết và thực hiện hợp đồng của các chủthể ngày càng thuận lợi. Tuy vậy, xét trên nhiều phương diện, vấn đềhiệu lực của hợp đồng là một vấn đềpháp lý rất phức tạp cảvềmặt lý luận cũng nhưthực tiễn áp dụng pháp luật.Vềmặt lý luận, các học giảvẫn chưa thống nhất được với nhau trong việc xác định nội dung của hiệu lực hợp đồng. Nhận xét vềthực tếnày, có luật gia cho rằng: “Dù luật gia nào cũng nói tới hiệu lực của hợp đồng, nhưng khi được hỏi nó là gì và nội dung ra sao thì phần lớn chỉnói tới điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng” [38, tr. 37]. 2 Trong thực tiễn lập pháp, vấn đềhiệu lực của hợp đồng đã được qui định khá cụ thểtrong Bộluật Dân sự2005 (BLDS 2005). Tuy nhiên, một sốquy định vềhiệu lực hợp đồng trong BLDS 2005 cũng đã bộc lộnhiều bất cập, gây khó khăn cho công tác giải quyết các tranh chấp có liên quan. Vấn đề điều kiện có hiệu lực của hợp đồng hiện vẫn là vấn đềcòn gây nhiều tranh cãi trong giới luật học, đặc biệt là điều kiện hình thức và đường lối xửlý các hợp đồng vi phạm hình thức. Qui định vềthời điểm giao kết và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng vẫn còn nhiều điểm chưa phù hợp với thực tếvà không khảthi. Những bất cập trên đây cần phải được nghiên cứu làm rõ và đề xuất các giải pháp pháp lý nhằm khắc phục, hoàn thiện. So với pháp luật hợp đồng của một quốc gia (Pháp, Đức, Anh, Mỹ, Nga ), các Bộnguyên tắc hợp đồng quốc tế(PICC, PECL), qui định trong luật Việt Nam vềhiệu lực của hợp đồng vẫn còn nhiều điểm chưa tương đồng. Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tếngày càng sâu rộng vào các thểchếkinh tếquốc tế đòi hỏi cần phải có sự cải cách thích ứng hệthống pháp luật, đặc biệt là pháp luật vềhợp đồng, theo hướng tiếp thu có chọn lọc những điểm tiến bộtrong pháp luật hợp đồng của các nước và của các Bộnguyên tắc hợp đồng quốc tế, làm cho pháp luật hợp đồng Việt Nam ngày càng hoàn thiện và có sựtương đồng hơn so với pháp luật của các quốc gia trên thếgiới. Từnhững lý do trên tác giảlựa chọn đềtài “Hiệu lực của hợp đồng theo qui định của pháp luật Việt Nam” để làm luận án tiến sỹluật học.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC