Luận án Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông thuộc bộ giao thông vận tải

Trong điều kiện cạnh tranh và nguồn lực ngày càng khan hiếm, để đứng vững trên thịtrường và không ngừng phát triển, DN cần phải sửdụng có hiệu quảcác nguồn lực của mình. Muốn sửdụng hiệu quảcác nguồn lực có hạn, DN cần phải đánh giá được hiệu quảsửdụng các nguồn lực. Nói cách khác, DN phải đánh giá đúng đắn HQKD của DN. Đánh giá HQKD có vai trò quan trọng trong quản trịDN. Theo Zairi: “đánh giá HQKD như là máu của DN, nếu thiếu nó thì không thể ra được quyết định” [1996:35]. Hệthống chỉtiêu đánh giá HQKD tin cậy và phù hợp không chỉgiúp cho DN đánh giá đúng đắn HQKD mà còn tạo động lực để động viên mỗi bộphận, cá nhân trong DN hoạt động có hiệu quảnhằm nâng cao khảnăng cạnh tranh của DN. Hệthống chỉtiêu đánh giá HQKD không chỉcung cấp thông tin vềtình hình thực hiện các mục tiêu ngắn hạn mà còn cho phép DN dự đoán khả năng thực hiện mục tiêu chiến lược, cung cấp thông tin vềnhững cải thiện cần thiết trong quy trình kinh doanh nội bộ để đạt được mục tiêu chiến lược. Trong hơn hai thập kỷqua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu vềhệ thống chỉtiêu đo lường và đánh giá HQKD. Nói vềvai trò của hệthống chỉ tiêu đo lường và đánh giá hiệu quảtrong DN, R. Kaplan và D. Norton cho rằng “Đo lường nhưthếnào thì nhận được nhưthế” và “Hệthống đo lường hiệu quảcó ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của các nhà quản trịvà người lao động (Kaplan và Norton, 1992). Hai ông cho rằng cũng chỉra hạn chếcủa hệthống đo lường và đánh giá hiệu quảchỉdựa trên các thước đo với các số liệu tài chính có thểdẫn đến những sai lầm [45]. Các công trình nghiên cứu 2 trong gần 20 năm trởlại đây cũng cho thấy quan điểm về đánh giá HQKD trên thếgiới đã có những thay đổi đáng kể. Trước đây người ta chỉchú ý đến HQKD ngắn hạn thì ngày nay, các DN chú ý nhiều hơn đến đánh giá HQKD dài hạn (Schiemann & Lingle, 1999) Các chỉ tiêu đánh giá HQKD cũng có nhiều thay đổi, nếu nhưtrước đây các DN sửdụng các chỉtiêu tài chính là chủyếu thì trong những năm gần đây xu hướng kết hợp các chỉtiêu tài chính với các chỉtiêu phi tài chính để đánh giá HQKD của DN ngày càng phổbiến (Kaplan và Norton, 1992). Nền kinh tế nước ta chuyển sang hoạt động theo cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa đã hơn 20 năm. Tuy nhiên, các DN Việt Nam, đặc biệt các DN nhà nước vẫn bị ảnh hưởng nặng nềcủa thức quản lý DN theo cơchếtập trung. Trong hơn 20 năm qua, mặc dù cơchếquản lý kinh tế đã thay đổi, môi trường kinh doanh và phương pháp quản trị, v.v. đã có nhiều thay đổi những hệthống chỉtiêu đánh giá HQKD vẫn chưa có những thay đổi tương ứng. Các chỉtiêu đánh giá HQKD của DN lệthuộc chủyếu vào các số liệu tài chính, không gắn với thị trường và chiến lược của DN. Cũng trong gần 20 năm qua, ở nước ta cũng chưa có nhiều các công trình nghiên cứu vềhệthống chỉtiêu đánh giá HQKD và ảnh hưởng của nó đến hoạt động kết quảcủa DN

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC