Luận án Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp may mặc Việt Nam

Ngành Dệt May là ngành sản xuất quan trọng ñóng góp cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Trong một thời gian dài, mức tăng trưởng xuất khẩu bình quân của Ngành là 20% năm, ñóng góp từ 16% - 18% tổng giá trị công nghiệp cả nước, chiếm tỷ trọng khoảng 15% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, tạo việc làm cho hơn 2 triệu lao ñộng. Trong Quy hoạch Phát triển Công nghiệp ñến năm 2020 - 2030, Ngành Dệt May vẫn tiếp tục là ngành trọng yếu trong cơ cấu công nghiệp của Việt Nam. Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong Ngành, trong ñó có các doanh nghiệp may mặc, ñang ñối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức trên con ñường phát triển. Hệ thống kiểm soát nội bộ là phương sách quản lý hữu hiệu của các nhà quản lý doanh nghiệp. Hệ thống này bao gồm các chính sách và thủ tục kiểm soát ñược thiết kế nhằm ñảm bảo cho doanh nghiệp ñạt ñược cácmục tiêu: bảo vệ tài sản của doanh nghiệp, ñảm bảo ñộ tin cậy của hệ thống thông tin, ñảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện hoạt ñộng trên cơ sở tuân thủ các quy ñịnh pháp lý, và quan trọng hơn nữa, ñảm bảo các hoạt ñộng của doanh nghiệp ñược thực hiện hiệu quả. Trong thời kỳ hiện ñại, vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ không chỉ giới hạn ở việc ñảm bảo mà còn mở rộng sang cả vai trò hỗ trợ và tạo ra giá trị gia tăng cho tổ chức. Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát các doanh nghiệp Việt Nam do Công ty Kiểm toán Pricewaterhouse Cooper thực hiện năm 2006 cho thấy những con số ñáng lo ngại: 38% công ty không có quy trình kiểm soát nội bộ chính thức, 58% công ty cho rằng thông tin ñến với ban giám ñốc không thích hợp và không ñúng lúc, 61% công ty không có ban kiểm soát Hệ thống kiểm soát nội bộ có ảnh hưởng lớn ñến lòng tin của các nhà ñầu tư về sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp. Khi hệ thống kiểm soát nội bộ yếu kém, rõ ràng việc ñạt ñược các mục tiêu mà doanh nghiệp ñã ñặt ra rất khó khăn. Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, các doanhnghiệp may mặc Việt Nam cũng ñang ñối mặt với thực tế hệ thống kiểm soát nội bộ chưa ñược hoàn thiện. ðặc thù của Ngành là sử dụng nhiều lao ñộng nhưng các doanh nghiệp luôn 2 phải ñối mặt với sự biến ñộng lao ñộng lớn gây khó khăn cho sản xuất. Hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp may mặc Việt Nam sản xuấttheo hình thức gia công xuất khẩu theo ñơn ñặt hàng của khách hàng. Cách thức sản xuất này thể hiện sự lệ thuộc quá lớn của doanh nghiệp may Việt Nam vào cácbạn hàng nước ngoài ở cả ñầu vào và ñầu ra của sản phẩm, ñồng thời kéo theo hiệu quả kinh doanh thấp, tính tự chủ trong kinh doanh không cao. Hệ thống thông tin tiềm ẩn nhiều hạn chế không thực sự hữu dụng cho quá trình ra quyết ñịnh và ñiều hành doanh nghiệp của nhà quản lý. Trên thị trường quốc tế, hàng may mặc ViệtNam luôn phải ñối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ hàng may mặc của các nước có ngành dệt và may phát triển như Trung Quốc, Ấn ðộ, Pakistan, . Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất mà các doanh nghiệp trong Ngành phải vượt qua chính là các rào cản thương mại do các nước nhập khẩu dựng lên ñể hạn chế lượng lớn hàng may mặc từ các nước ñang phát triển trong ñó có Việt Nam. Xuất phát từ những lí do trên, hoàn thiện hệ thốngkiểm soát nội bộ trở thành vấn ñề có tính cấp bách trong quản lý tại các doanhnghiệp may mặc, có ý nghĩa về cả lý luận lẫn thực tiễn trong giai ñoạn hiện nay ởViệt Nam. Nhận thức ñược tầm quan trọng của vấn ñề này, Tác giả ñã lựa chọn ðề tài: "Hoµn thiÖn hÖ thèng kiÓm so¸t néi bé trong c¸c doanh nghiÖp may mÆc ViÖt Nam" lµm ðÒ tµi LuËn ¸n tiÕn sÜ cña m×nh

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC