Luận án Kiểm toán xác định giá trị doanh nghiệp tại Việt Nam

Trong nền kinh tế thị trường, việc mua bán, chia tách, giải thể, phá sản hoặc sáp nhập các doanh nghiệp là một hoạt ñộng diễn ra thường xuyên với nhiều vấn ñề phức tạp. Theo số liệu nghiên cứu mới nhất về hoạt ñộng mua bán và sáp nhập tại Việt Nam của Pricewaterhouse Coopers về “Hoạt ñộng mua bán và sáp nhập (M&A) tại Việt nam trong năm 2009” thì số lượng giao dịch về mua bán và sáp nhập thành công trong năm 2009 là 295 giao dịch ñạt mức 1,138 triệu ñô la Mỹ và tăng so với 128 giao dịch của năm 2008 tăng tương ñương 77%. Quá trình mua bán, chia tách, sáp nhập, giải thể, phá sản ñòi hỏi phải có các thông tin ñáng tin cậy về giá trị doanh nghiệp ñể giải quyết các mối quan hệ kinh tế của giữa những người góp vốn cũng như các nhà ñầu tư. Thêm vào ñó, trong những năm gần ñây, hoạt ñộng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là một vấn ñề ñã và ñang ñượcðảng và Nhà nước ñặc biệt quan tâm vì cổ phần hóa không chỉ giúp giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước khi phải nắm giữ các doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả mà còn giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo thu nhập cho Nhà nước. Trong quá trình tiến hành cổ phần hóa thì một vấn ñề quan trọng ñược ñặt ra là cần phải xác ñịnh ñược giá trị của doanh nghiệp ñể chuyển ñổi hình thức doanh nghiệp. Tuy nhiên, hoạt ñộng xác ñịnh giá trịdoanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là công việc rất phức tạp, khó khăn. Nó càng phức tạp và khó khăn hơn nữa trong ñiều kiện ở Việt Nam vì ñây là một lĩnh vực mới mẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm cả về lý luận cũng như hoạt ñộng thực tiễn. Hiện nay, Việt Nam ñã hình thành nhiều ñơn vị, tổ chức ñộc lập thực hiện công việc xác ñịnh giá trị doanh nghiệp cũng như Bộ Tài chính ñã ban hành Hệ thống tiêu chuẩn về thẩm ñịnh giá ñể làm căn cứ thực hiện công việc xác ñịnh giá trị. Nhưng, trong thời gian qua hoạt ñộng này còn nhiều hạn chế 2 do các văn bản pháp luật liên quan vẫn còn chưa ñầy ñủ, các ñơn vị, tổ chức tiến hành xác ñịnh giá trị doanh nghiệp theo các phương pháp, thông tin khác nhau, thiếu sự thống nhất trong quy trình xác ñịnh giá trị doanh nghiệp. ðiều này dẫn ñến một số hạn chế như: một số doanh nghiệpñược ñánh giá giá trị quá cao gây ra khó bán cổ phần, bất lợi trong việc chia cổ phần ưu ñãi trong nội bộ, trong khi ñó một số doanh nghiệp lại bị ñánh giá giá trị quá thấp dẫn tới Nhà nước bị thất thoát tài sản, ngân sách, các chủ sở hữu bị mất vốn khi chia tách, giải thể, phá sản. Chính ñiều này ñã dẫntới hoạt ñộng xác ñịnh giá trị doanh nghiệp còn chưa sát với thực tế, các kết quả không thống nhất và làm tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước hiện nay bị chậm trễ cũng như gây khó khăn cho việc chia tách, sáp nhập, giải thể và phá sản doanh nghiệp. Thêm vào ñó, các hạn chế này làm cho các cơ quan quản lý, các nhà ñầu tư, những người mua cổ phiếu, những người ñóng góp vốn thiếu các thông tin tin cậy về giá trị của doanh nghiệp ñể làm căn cứ ra quyết ñịnh. Chính vì vậy, một yêu cầu ñặt ra là cần phải có hoạt ñộng kiểm toán làm trung gian ñể xác nhận tính trung thực của việc xácñịnh giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, hoạt ñộng kiểm toán xác ñịnh giá trị doanh nghiệp còn rất mới mẻ và còn nhiều vấn ñề cần phải nghiên cứu như về quy trình, nội dung và hệ thống phương pháp kiểm toán xác ñịnh giá trị doanh nghiệp. Từ ñó, Tác giả ñã lựa chọn ñề tài “Kiểm toán xác ñịnh giá trị doanh nghiệp tại Việt Nam” làm ñề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC