Luận án Nghiên cứu chất lượng đào tạo công nhân kỹthuật trong công nghiệp điện lực Việt Nam

Nghịquyết Hội nghịlần thứsáu Ban chấp hành trung ương khóa X vềtiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nêu rõ: “Giai cấp công nhân VN là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụcông nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụcó tính chất công nghiệp”; Nghịquyết khẳng định giữvững quan điểm chỉ đạo của Đảng: “giai cấp công nhân có sứmệnh lịch sửto lớn là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam”; Nghị quyết đềra mục tiêu đến năm 2020 là: “xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, có giác ngộgiai cấp và bản lĩnh chính trịvững vàng; có ý thức công dân, yêu nước, yêu chủnghĩa xã hội, tiêu biểu cho tinh hoa văn hóa của dân tộc; nhạy bén và vững vàng trước những diễn biến phức tạp của tình hình thếgiới, có tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết, hợp tác quốc tế”. [43,tr4] Đánh giá vềtình hình giai cấp công nhân Việt nam trong những năm vừa qua, bài viết của nguyên Tổng Bí thưNông Đức Mạnh đăng trên Báo Lao động số36 ngày 17/02/2008 có viết “ sựphát triển của giai cấp công nhân chưa đáp ứng được yêu cầu vềsốlượng, cơcấu và trình độhọc vấn, chuyên môn, kỹnăng nghềnghiệp của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kỹthuật, cán bộquản lý giỏi, công nhân lành nghề; tác phong công nghiệp và kỷluật lao động còn nhiều hạn chế; đa phần công nhân từ nông dân, chưa được đào tạo cơbản và có hệthống”. [43] Hiện nay, vấn đềchất lượng đào tạo đội ngũcông nhân kỹthuật trong công nghiệp Điện lực, cụthể ởTập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vừa có tính thời sự, vừa có tính chiến lược. Vấn đềnày mang tính thời sựlà vì Việt Nam đang phấn đấu cho mục tiêu “đến năm 2020 cơbản trởthành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, nhưnghịquyết Đại hội Đảng lần thứIX đã đềra. Trong mục tiêu này, 2 Đảng ta đã xác định: “Phát triển năng lượng phải đi trước một bước để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an toàn năng lượng quốc gia”. Để đáp ứng yêu cầu của sựnghiệp CNH, HĐH đất nước, điện lực phải đạt tốc độtăng trưởng bình quân 15% đến 17% trên năm, trong khi GDP tăng từ 8% đến 8,5% trên năm. Nghĩa là, phát triển năng lượng phải đạt 1,5 lần thì mới đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay. Vấn đềnày cũng mang tính chiến lược vì Việt Nam đã hội nhập kinh tếquốc tế, là thành viên chính thức của WTO, chúng ta đã hoàn toàn chủ động đểlựa chọn thiết bịvà công nghệtiên tiến, hiện đại của thếgiới. Nhưng yếu tốcon người thì phải qua đào tạo với một thời gian nhất định, đưa vào sửdụng trong thực tế, thông qua thửthách của công việc thì mới thành người thợcó tay nghềhoàn chỉnh. Đào tạo con người có tay nghềkhác với việc nhập thiết bịvà công nghệ. Điều đó nói lên rằng, đạt được chất lượng lao động có nghềnghiệp tinh thông còn khó hơn nhiều nhập thiết bịvà công nghệ. Thế nhưng, trên thực tế, vấn đề“dạy nghề” hay nói một cách khác là vấn đề đào tạo công nhân kỹthuật (CNKT) luôn bịcoi nhẹ, bị đùn đẩy, bịrơi vào tình trạng “tách, nhập” suốt vài thập niên lại đây. Cho tới bây giờ, hiện tượng khá phổbiến là “thừa thầy, thiếu thợ” ởtất cảcác ngành, trong đó có cảngành Điện. Đây là vấn đềcần được nghiên cứu đầy đủvà nghiêm túc, lấy phương châm chiến lược “con người là yếu tốquyết định” trong mọi hoạt động kinh tế-xã hội. Theo báo cáo mới nhất của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (Đềán Kếhoạch đào tạo phát triển nguồn nhân lực-báo cáo năm 2008), số lượng CNKT ngành Điện chiếm 49,13% (là 42.715 người) trên tổng sốnhân lực toàn ngành Điện là 86.928 người. Nếu so sánh trong ngành Điện thì lao động có trình độcao đẳng và trung cấp là 13.379 người, chiếm 15,39%; đại học là 20.224 người, chiếm 23,26%, trên đại học là 565 người, chiếm 0,65%. Nhưvậy, CNKT ngành Điện là lực lượng đông đảo nhất, trực tiếp lao động sản xuất và kinh doanh trên các lĩnh vực hoạt động của ngành Điện, từBắc chí Nam và cảnhững công trình mà EVN đang đầu tư ởnước ngoài. Mục tiêu phát triển của EVN từnay đến năm 2015 và tầm nhìn 2020: “Tốc độtăng nhu cầu điện bình quân là 10-12%/năm. Phấn đấu năm 2015 đạt sản lượng 3 khoảng 194 tỷ kWh và năm 2020 sản lượng đạt khoảng 320 tỷ kWh”. Hiện tại, EVN có 14 nhà máy phát điện, đến năm 2012 sẽcó 32 nhà máy phát điện cùng hoạt động, sẽthu hút hàng ngàn CNKT vào làm việc, đó là nhu cầu thực tếkhách quan. Còn nhu cầu chủquan, từtháng 12/2005 tới nay, EVN phát triển thành tập đoàn kinh tếmạnh. Theo tinh thần Nghịquyết trung ương 3, khóa IX: “EVN chịu trách nhiệm chính vềviệc đảm bảo cung cấp điện ổn định, an toàn, bền vững cho phát triển kinh tế- xã hội và an ninh–quốc phòng”. Mặt khác, EVN vừa đa dạng hóa sản phẩm, đa phương hóa đầu tư, nên nhu cầu thu hút CNKT là rất lớn. EVN đã đưa ra 4 định hướng chiến lược phát triển: “Thương mại; Nguồn điện; Lưới điện; Nhân lực”. Theo nghiên cứu của đềán Kếhoạch Đào tạo phát triển nguồn nhân lực của Tập đoàn Điện lực Việt Nam công bốnăm 2008, dựkiến đến năm 2015, tổng sốlao động của EVN là 100.568 người, trong đó, tỷlệCNKT từ35-37% (37.210 người) so với sốlao động năm 2008, CNKT chiếm 49,13% (là 42.715 người) ta thấy, có tới 5.505 người CNKT được phát triển trình độlên mức cao hơn. Nhưvậy, nhân lực là yếu tốkhông thểthiếu trong chiến lược phát triển của ngành công nghiệp Điện lực, trong đó CNKT là lực lượng sản xuất trực tiếp, chiếm sốlượng đông đảo nhất. Vì vậy, nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũCNKT ngành công nghiệp Điện lực nhưthếnào đểcó thể đáp ứng được yêu cầu của Ngành nói chung và EVN nói riêng, trong giai đoạn 2011-2015 tầm nhìn 2020, là đòi hỏi bức thiết đặt ra.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC