Luận án Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ nuôi, bảo tồn và phát triển nguồn lợi hai loài ngao (meretrix meretrix linnaeus, 1785 và meretrix lyrata sowerby, 1851) tại vùng ven biển tỉnh Nam Định

Ở nước ta, hai loài ngao là ngao dầu (Meretrix meretrix) và ngao trắng (Meretrix lyrata) thuộc giống ngao (Meretrix) là đối tượng quan trọng, được nuôi phổ biến, chiếm 75 - 80 % tổng sản lượng động vật thân mềm. Ngao được nuôi ở hầu hết các tỉnh ven biển Đồng Bằng Sông Hồng và Đồng Bằng Sông Cửu Long, tạo ra lượng sản phẩm lớn phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, đồng thời cũng đã tạo nhiều việc làm và tăng cao thu nhập cho hàng triệu cư dân ven biển [58]. Vùng ven biển huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định với xu thế bồi tụ mạnh, hàng năm lấn ra biển trung bình 32,8m/năm đã hình thành nên vùng triều rất rộng [40], [131], tạo điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh nghề nuôi ngao. Nghề nuôi ngao được hình thành khi nhu cầu về nguồn thực phẩm từ thịt ngao trong xã hội tăng lên. Ngư dân vùng triều ven biển đã chuyển từ việc khai thác tự nhiên sang dùng cọc, lưới polyetylen khoanh vây ngao giống ngoài bãi triều, quản lý theo dõi và tiến hành thu hoạch khi ngao đạt cỡ thương phẩm. Thời gian đầu hình thành nghề nuôi ngao, đối tượng nuôi là loài ngao dầu (Meretrix meretrix) bản địa, được lấy giống ngoài tự nhiên để nuôi. Do việc nuôi ngao mang lại lợi nhuận cao, nên diện tích nuôi không ngừng được mở rộng mang tính tự phát, nguồn giống bị khai thác quá mức, làm cho nguồn lợi ngao tự nhiên ngày một suy giảm. Nhằm đáp ứng nhu cầu con giống cho việc nuôi ngao ngày càng gia tăng, người dân đã di nhập loài ngao (Meretrix lyrata) còn gọi là ngao trắng (nghêu Bến Tre) từ các tỉnh Nam Bộ ra vùng này để nuôi. Loài ngao trắng đã thích nghi với điều kiện môi trường, nhanh chóng chiếm được ưu thế về số lượng và trở thành đối tượng nuôi chính tại vùng triều ven biển huyện Giao Thủy [66].

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC