Luận án Nghiên cứu về giá trị kinh tế của đất ngập nước

Việt Nam có một hệ thống tài nguyên đất ngập nước (ĐNN) rất phong phú với diện tích hơn 10 triệu hectaphân bố rộng khắp cả nước, gồm nhiều loại hình đa dạng như đầm phá, đầm lầy, bãi bồi cửa sông, rừng ngập mặn ven biển, ao hồ tự nhiên và nhân tạo. ĐNN là một tài nguyên quan trọng cung cấp rất nhiều giá trị trực tiếp và gián tiếp cho cộng đồng xã hội nhưthủy sản, dược liệu,phòng chống thiên tai, bảo vệ bờ biển,hấp thụ CO 2 , bảo tồnnguồn gen và đa dạng sinh học cũng như các giá trị văn hoá , lịch sử và xã hội khác[15][20][33]. Mặc dù có vai trò quan trọng với hệ thống kinh tế, xã hội và môi trường nhưng các hệ sinh thái ĐNN tại Việt Nam đang bị suy giảm nghiêm trọng. Về số lượng, trong th ập kỷ qua, ước tính có khoảng 180 ngàn harừng ngập mặn ven biển đã bị mất, thay vào đó là các đ ầm nuôi trồng thủy sản, các công trình phục vụ du lịch, giao thông, thương mại. Ngoài ra, ĐNN c ũng chịu sự thay đổi mạnh mẽ về chất lượng do một số nguyên nhân. Trước hết là ô nhiễm công nghiệp: các chất thải từ sản xuất công nghiệp, tàu thuy ền gây ảnh hưởng mạnh và nghiêm trọng tới ch ất lượng các sông hồ, kênh rạch chứa nước. Ô nhiễm do sử dụng hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp cũng là một mối đe dọa lớn đối với chất lượng môi trường ĐNN. Vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng có mức độ sử dụng chất bảo vệ thực vật rấtlớn với nồng độ trong mùa mưa đều quá giới hạn cho phép khoảng 20-30lần. Trong giai đoạn 1995-2005 cũng có 50 tai nạn dầu tràn làm tràn khoảng 90 ngàn tấn dầu ra biển, gây thiệt hại lớn cho các hệ sinh thái ĐNN ven biển[9] [45] [92]. Theo Cục BVMT (2006), nguyên nhân của sự suy giảm tài nguyên ĐNN ở Việt Nam bên cạnh những yếu tố khách quan như biến đổi khí hậu, sự cố tràn dầu, áp lực tăng trưởng kinh tế, đô thị hoá, còn có sự yếu kém trong hệ thống quản lý tài -2 -nguyên. Cụ thể là hệ thống pháp lý thiếu đồng bộ, chồng chéo trong phân định chức năng của các cơ quan quản lý, hệ thống quyền tài sản chưa được phân định rõ ràng, nguồn tài chính cho bảo tồn kém bền vững, thiếu cơ sở dữ liệu, tư liệu khoa học phục vụ quản lý[13] [72]. Kinh nghiệm thế giới cho thấy thông tin về giá trị kinh tế của ĐNNlà một yếu tố đầu vào quan trọng cho việc quản lývà sử dụng hiệu quả, bền vữngtài nguyên này . Một mặt, các thông tin về giá trị kinh tếgiúp các nhà quản lý lựa chọn đượccác phương án sử dụngĐNN có hiệu quả, góp phần xây dựngcác qui hoạch, kế hoạch phát triển.Mặt khác, thông tin về giá trị kinh tế cũnglà một đầu vào quan trọnggóp phần hoàn thiện hệ thống pháp lývà các cơ chế quản lý ĐNN, lý giải cho sự phân bổ nguồn lực cho bảo tồnĐNN, xây dựng hệ thống cơsở dữ liệu phục vụ quản lý, là cơ sở để giải quyết tranh chấp khiếu nạicũng như là một thành tố cơ bản trong các chương trình giáo dục, truyền thông ĐNN [55] [75].

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC