Luận án Nuôi sinh khối artemiatrên bể lót bạt với mật độ cao

Đề tài nuôi sinh khối Artemia trên bể lót bạt được thực hiện gồm hai thí nghiệm: Trong thí nghiệm 1 Artemiađượcbố trí trong chai 500 mlchứa 400 ml nước 50‰, với mật độ nuôi 200 con/chai. Thức ăn là5 loại phụ phẩm nông nghiệp gồm: đậu nành rang, đậu nành tươi, cám gạo, cám ủ men và bột mì tinh. Kết quả sau 14 ngày nuôi cho thấytỷ lệ sống của Artemia ở nghiệm thức bột mì tinh cao nhất (53,3±15,3%) kế đến là cám ủ men (46,6±9,3%), cám gạo (41,3±5,4%), đậu nành rang có tỷ lệ sống thấp nhất (2,0±1,8%) và ở nghiệm thức cho ăn bằng đậu nành tươi thì Artemiachết toàn bộ vào ngày thứ 5. Về tăng trưởng nhanh nhất là cám ủ(8,32±0,1 mm), kế đến là cám gạo (7,80±0,03 mm), bột mì tinh (5,52±0,47 mm) và thấp nhất là đậu nành rang (2,20±0,2 mm). Ở thí nghiệm2, Artemia được thả nuôitrong các bể lót bạt 2 m3 ngoài trờivới thức ăn là cám ủ vàcấp nước từ ao bón phân. Sau thời gian nuôi là 14 ngày kết quả cho thấy tỷ lệ sốngcókhác biệtnhưngkhông có ý nghĩa thống kê(p<0,05), mật độ 1.000 con/Llà 19,9±6,4%, 1.500 con/Llà 17,4±2, 4% và 2.000 con/L là 14,6±2,0%. Tuy nhiên, có sự khác biệt về tăng trưởng giữa các nghiệm thức (p<0,05). Mật độ 1000 con/Lcó tăng trưởng tốt nhất, kế đến là 1.500 con/L vàchậm nhất là 2.000 con/L.Năng suất sinh khối thu được sau 14 ngày nuôi tương ứng với 3 mật độ là 2.226±262 g, 2.010±149 g và 1917±145 g và khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Tómlại, khi nuôi sinh khối ở mật độ cao nênthu hoạch ở giai đoạn từ 7 đến 9 ngày. Nếu kéo dài thời gian nuôi sẽ không hiệu quả vì tỷ lệsống và năng suất sinh khối có xu hướng giảm.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC