Luận án Tăng cường quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam

Để đạt tốc độ tăng tr-ởng cao trong điều kiện tiết kiệm trong n-ớc còn hạn chế, các n-ớc đang phát triển th-ờng thu hút nguồn vốn n-ớc ngoài bằng nhiều cách khác nhau, trong đó, vay nợ là một ph-ơng thức phổ biến. Vay nợ n-ớc ngoài bao gồm vay nợ d-ới hình thức vay vốn hỗtrợ phát triển chính thức (ODA) có tính chất -u đi và vay th-ơng mại theo các điều kiện thị tr-ờng. Nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài đ giúp nhiều quốc gia khắc phục tình trạng chậm phát triển và chuyển sang phát triển bền vững. Nợ n-ớc ngoài phải đ-ợc sử dụng một cách có hiệu quả để đáp ứng các nhu cầu đầu t-, đồng thời phải thúc đẩy xuất khẩu tăng tr-ởng, nhằm tạo nguồn vốn trả nợ, đảm bảo phát triển kinh tế bền vững. Tuy nhiên cũng có không ít quốc gia không những không cải thiện đ-ợc một cách đáng kể tình hình kinh tế mà còn lâm vào tình trạng nợ nần nặng nề, khủng hoảng tài chính và kinh tế suy thoái. Nguyên nhân của những thất bại trong việc vay nợ n-ớc ngoài có rất nhiều, trong đó phải kể đến việc buông lỏng quản lý nợ n-ớc ngoài. Chính vì vậy chính sách quản lý nợ n-ớc ngoài là một bộ phận thiết yếu trong hệ thống chính sách tài chính quốc gia. Trong suốt một thời gian dài kể từ khi giành đ-ợc độc lập, Việt Nam đ nhận đ-ợc sự hỗ trợ vô t- từ phía các n-ớc x hội chủ nghĩa anh em nh- Liên Xô, Trung Quốc, các n-ớc Đông Âu, Cu-ba, v.,v., và một số n-ớc anh em bè bạn khác. Kinh nghiệm về vay và trả nợ n-ớc ngoài trong thời kỳ này chỉ giới hạn ở một số khoản vay nhỏ từ một số các Chính phủ bạn bè, thêm nữa trong việc vay và trả nợ thời đó quan hệ hữu nghị và ngoại giao đ-ợc coi trọng hơn quan hệ kinh tế thị tr-ờng. Vấn đề vay và trả nợ ở Việt Nam thực ra mới chỉ bắtđầu nổi lên nh- một vấn đề quan trọng kể từ khi có sự nối lại các hoạt động cho vay của hai tổ chức tài chính đa ph-ơng lớn là Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển 2 Châu ávào năm 1993. Song, cũng kể từ đó, cùng với những cam kết hỗ trợ ODA ngày càng lớn của cộng đồng các nhà tài trợ từ các n-ớc công nghiệp phát triển và các tổ chức tài chính đa ph-ơng, vay n-ớc ngoài của Việt Nam ngày càng tăng dần về số l-ợng vay, số khoản vay, tính đa dạng của các hình thức vay và trả nợ, và sự cần thiết phải theo dõi và kiểm soát nợ n-ớc ngoài cũng trở nên ngày càng cấp thiết. Mặc dù cho đến nay, vốn vay n-ớc ngoài phần lớn vẫnlà d-ới hình thức hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) với các điều kiện -u đi (trong đó yếu tố cho không ít nhất chiếm 25% tổng số vốn), song việcsố l-ợng nợ n-ớc ngoài tăng vọt cũng vẫn đòi hỏi hệ thống quản lý nợ n-ớc ngoài phải có những tiến bộ v-ợt bậc để đáp ứng nhu cầu lập kế hoạch, theo dõi, kiểm soát việc vay nợ và cân đối tài chính quốc gia để đảm bảo thực hiện đúng thời hạn và đầy đủ các nghĩa vụ trả nợ. Việc Chính phủ trong vài năm gần đây đ đổi mới một loạt các quy định về quản lý vay và trả nợ n-ớc ngoài, nh- Quy chế quản lý vay và trả nợ n-ớc ngoài 2005, Quy chế thu thập, báo cáo, tổng hợp, chia sẻ và công bố thông tin về nợ n-ớc ngoài 2006, Quy chếcấp và quản lý bảo lnh Chính phủ đối với các khoản vay n-ớc ngoài 2006, hay Quy chế lập, sử dụng và quản lý Quỹ tích luỹ trả nợ n-ớc ngoài 2006 (do Bộ tr-ởng Tài chính ban hành) cho thấy tính cấp thiết của việc đổi mới toàndiện hệ thống quản lý nợ của quốc gia và sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ đối với vấn đề quản lý nợ n-ớc ngoài hiện nay.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC