Luận án Từ biểu hiện bộ phận cơ thể người trong tiếng Thái ở Việt Nam (có liên hệ với tiếng Việt)

Nghĩa của từ có chức năng phản ánh, biểu đạt, ánh xạ thực tại và tư duy. Nói một cách khái quát, nghĩa của từ thuộc về bình diện tinh thần được vật chất hóa thông qua vỏ âm thanh của từ. Chính vì thuộc bình diện tinh thần nên nghĩa của từ luôn là đối tượng khó nắm bắt được một cách chính xác. Trong khi đó, việc thông hiểu được nghĩa của từ là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả của hoạt động giao tiếp. Trong cuốn "Các lí thuyết ngữ nghĩa học từ vựng", Dirk Geeraerts cho rằng: "Từ vựng của một ngôn ngữ không phải là một cái túi từ không có cấu trúc, mà là một mạng lưới các biểu thức ngôn ngữ có liên quan đến nhau nhờ những mối liên hệ ngữ nghĩa" [30, tr. 143- 144]. Như vậy, các loại quan hệ nghĩa khác nhau có giá trị ràng buộc các từ lại với nhau. Khi tồn tại trong hệ thống, các từ hiện tồn một mạng quan hệ nghĩa, một trong số đó là: quan hệ tổng phân nghĩa, quan hệ bao thuộc, quan hệ đa nghĩa và quan hệ đồng nghĩa. 1.2. Từ biểu hiện bộ phận cơ thể người (BPCTN) thuộc lớp từ vựng cơ bản - lớp từ chỉ các sự vật, sự việc, hiện tượng gần gũi chung quanh con người, quen thuộc với mọi người và phản ánh được nhiều thông tin về trạng thái cổ xưa của mỗi ngôn ngữ. Từ trước tới nay, nghiên cứu về nghĩa của từ biểu hiện BPCTN thường dựa trên cơ sở lí thuyết trường nghĩa và lí thuyết định danh. Trong khoa học, những kết quả nghiên cứu khác nhau về cùng một đối tượng thường được quyết định bởi khung lí thuyết nền tảng. Dùng lí thuyết về mạng quan hệ nghĩa của từ như một sự mở rộng biên độ để tìm hiểu từ biểu hiện BPCTN là một sự lựa chọn cho việc tìm kiếm câu trả lời về mối quan hệ giữa từ với từ trong hệ thống ngôn ngữ, về mối quan hệ giữa từ với hiện thực khách quan.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC