Luận án Xã hội hoá y tế ở Việt nam: Lý luận, thực tiễn và giải pháp

Phát triển sự nghiệp y tế luôn là ưu tiên hàng ñầu của mọi Chính phủ. Thụ hưởng ñầy ñủ dịch vụ y tế có ý nghĩa quyết ñịnh ñếnchất lượng cuộc sống, phản ánh kết quả của quá trình phát triển. Hơn nữa, thành quả của y tế cũng là ñiều kiện của sự phát triển, là ñộng lực phục vụ cho sự phát triển ñất nước và con người, tham gia tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội của ñất nước.Y tế cũng là mặt trận hàng ñầu trong chiến lược xoá ñói giảm nghèo của Chính phủ Việt nam bởi mối quan hệ luẩn quẩn giữa bệnh tật và ñói nghèo.Trong những năm qua, ngành y tế ñã ñạt ñược những thành tựu nổi bật, ñóng góp nhiều cho sự pháttriển chung của ñất nước: Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới năm tuổi giảm từ 33,1% năm 2000 xuống còn 19,9% năm 2009, sức khoẻ nhân dân ñược chăm sóc tốthơn nên tuổi thọ bình quân tăng từ 67,8 tuổi năm 2000 lên 74,9 tuổi năm 2010[11]. Tuy nhiên, trong ñiều kiện nền kinh tế ñang phát triển với các giới hạn nhất ñịnh về nguồn lực, khu vực y tế nhà nước ñang ngày càng trở nên bất cập trong việc ñáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh (KCB) của nhân dân cả về số lượng và chất lượng. Cùng với các thành quả to lớn của quá trình phát triển kinh tế, thu nhập người dân ñược cải thiện, dân số cũng không ngừng tăng dẫn ñến những ñòi hỏi tất yếu về chăm sóc sức khoẻ (CSSK) cả về số lượng và chất lượng. Bên cạnh ñó, sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực y học cùng với cơ cấu bệnh tật thay ñổi ñã khiến cho chi phí KCB ngày càng cao.Theo tính toán sơ bộ, giai ñoạn 2007-2010, ngành y tế cần 39.000 tỷ ñồng ñầu tư cho cơ sở hạ tầng, nhưng nguồn vốn ngân sách và các nguồn vốn khác chỉ ñáp ứng ñược 25.000 tỷ ñồng, thiếu khoảng 14.000 tỷ ñồng[35]. Trước ñòi hỏi ngày càng cao về nhu cầu CSSK, ngành y tế cần huy ñộng mọi tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy ñộng toàn xã hội chăm lo sự nghiệp y tế theo ñịnh hướng XHH hoạt ñộng y tế. ðứng trước thực tế sự hạn chế của nguồn lực không ñáp ứng ñược nhu cầu to lớn về chăm sóc y tế, Nghị quyết 4 Ban chấp hành TW ðảng khoá VII ban hành ngày 14/01/1993 ñã lần ñầu tiên ñề cập tới vấn ñề xã hội hoá (XHH) công tác y tế. ii Sau gần 17 năm triển khai, dường như công tác này chưa ñạt ñược những kết quả như mong ñợi.Khu vực y tế nhà nước chưa có sự chuyển biến nhiều, khu vực tư nhân vẫn còn quá nhỏ bé, còn sự vào cuộc của các tổchức, ban ngành hay các hộ gia ñình trong chăm sóc y tế vẫn còn rất mờ nhạt.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC