Luận án Xuất khẩu dịch vụ của các Ngân hàng thương mại Việt Nam

Một trong những hạn chế, thách thức trong phát triển kinh tế, phát triển thương mại quốc tế và xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam thời gian qua là cơ cấu kinh tế, cơ cấu xuất khẩu nói chung, cơ cấu sản phẩm dịch vụ xuất khẩu nói riêng chậm chuyển dịch theo hướng hiện ñại. Cơ cấu kinh tế chậm chuyển dịch theo hướng kinh tế thị trường hiện ñại trong 15 năm qua (1995-2010)trong cơ cấu GDP, tỷ trọng của khu vực dịch vụ không tăng lên mà lại có xu hướng giảm từ 44% năm 1995 xuống 38,1% năm 2000 và chỉ dao ñộng ở mức 38%-39% trong 4 năm sau khi gia nhập WTO (2007-2010); trong ñó, tỷ lệ ñóng góp của các tổ chức tài chính vào GDP chỉ dao ñộng ở mức 1,8%-2,0% trong suốt thời kỳ 1995-2010. Trong cơ cấu xuất khẩu, tỷ trọng của dịch vụ trong giá trị xuất khẩu ñã có hướng giảm từ 14,56% năm 1990 xuống 9,17% năm 2009 và chỉ chiếm 8,97% năm 2010, trái với xu thế phát triển chung của Thế giới (cơ cấu xuất khẩu của Thế giới trong cùng khoảng thời gian ñó, tỷ trọng của dịch vụ ñã tăng từ 18,53% lên 21%). Trong cơ cấu sản phẩm dịch vụ xuất khẩu, tỷ trọng của nhóm sản phẩm có giá trị gia tăng cao (như Tài chính ngân hàng, Bảo hiểm, Bưu chính viễn thông ) chỉ dao ñộngở mức 5%, riêng dịch vụ tài chính ngân hàng chỉ chiếm 3%. ðiểm ñáng chú ý là trong phương thức xuất khẩu dịch vụ, phương thức hiện diện thương mại và di chuyển thể nhân chỉ chiếm khoảng 5%, ñiều ñó ñồng nghĩa với việc chúng ta chưa tận dụng tốt các cơ hội tiếp cận thị trường thế giới từ hội nhập WTO, hội nhập các FTA mởra ñể phát triển kinh doanh dịch vụ ngoài biên giới quốc gia. Trong khi ñó, trên thị trường dịch vụ ngân hàng trong nước, thị phần của các NHTM Nhà nước liên tụcgiảm xuống (trên thị trường tiền gửi giảm từ 77% năm 2000 xuống 59,3% năm 2007, còn khoảng 55% năm 2010. Trên thị trường cho vay trong thời gian tương ứng giảm từ 78,7% xuống 60,1% và 55%). Theo ñề án phát triển xuất khẩu giai ñoạn 2006-2010, Chính phủ ñã ñặt ra mục tiêu ñạt tốc ñộ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩudịch vụ cả nước bình quân 16,3%/năm. ðồng thời, Chính phủ cũng phê duyệt ñề án phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam ñến năm 2010 và ñịnh hướng ñến năm 2020 với 11 nhóm giải pháp 2 lớn cần phải tổ chức thực hiện. Trong ñó có giải pháp là “ñẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực Ngân hàng”. Theo cam kết chung của Việt Nam khi gia nhập WTO ñối với các ngành dịch vụ về cơ bản như Hiệp ñịnh thương mại song phương với Hoa Kỳ (BTA). Trước hết, Công ty nước ngoài không ñược hiện diện tại Việt Nam dưới hình thức Chi nhánh, trừ phi ñiều ñó ñược ta cho phép trong từng ngành cụ thể. Ngoài ra, Công ty nước ngoài tuy ñược phép ñưa cán bộ quản lý vào làmviệc tại Việt Nam nhưng ít nhất 20% cán bộ quản lý của Công ty phải là người Việt Nam. Cuối cùng, ta cho phép tổ chức và cá nhân nước ngoài ñược mua cổ phầntrong các doanh nghiệp Việt Nam nhưng tỷ lệ phải phù hợp với mức mở cửa thị trường ngành ñó. Riêng Ngân hàng ta chỉ cho phép Ngân hàng nước ngoài mua tối ña 30% cổ phần. Cam kết cụ thể ñối với dịch vụ Ngân hàng: Việt Nam ñồng ý cho Hoa Kỳ thành lập Ngân hàng con 100% vốn nước ngoài không muộn hơn ngày 01/04/2007. Ngoài ra, Ngân hàng nước ngoài ñược thành lập Chi nhánh tại Việt Nam nhưng Chi nhánh ñó sẽ không ñược phép mở Chi nhánh phụ và vẫn phải chịu hạn chếvề huy ñộng tiền gửi bằng ñồng Việt Nam từ thể nhân Việt Nam trong vòng 5 nămkể từ khi ta gia nhập WTO. Ta vẫn giữ ñược hạn chế về mua cổ phần trong các Ngân hàng Việt Nam. ðây là hạn chế ñặc biệt có ý nghĩa ñối với ngành Ngân hàng. Như vậy, khu vực Ngân hàng sẽ gần như mở hoàn toàn trong nhận tiền gửi và các khoản phải trả khác từ công chúng; cho vay dưới tất cả các hình thức, bao gồm tín dụng tiêu dùng, tín dụng cầm cố thế chấp, bao thanh toán và tài trợ giao dịch thương mại v.v. Vì vậy, chúng ta phải sẵn sàngcác nguồn lực ñể có thể cạnh tranh với các Ngân hàng nước ngoài, ñồng thời tìm hướng ñi phù hợp cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong ñó, ñịnh hướng xuất khẩu dịch vụ của các Ngân hàng thương mại Việt Nam là một hướng ñi cần phải tính ñến. Trong bối cảnh ñó và ñể vượt qua những khó khăn thách thức nêu trên, việc nghiên cứu ñể tìm ra các giải pháp nhằm ñẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ của các ngân hàng thương mại Việt Nam, góp phần gia tăng xuất khẩu dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu và nâng cao chất lượng, hiệu quả xuất khẩu dịchvụ là rất quan trọng. Vì vậy, việc nghiên cứu tổng thể xuất khẩu dịch vụ của các Ngân hàng thương mại Việt Nam là rất cần thiết.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC