Luận văn Biện pháp giáo dục kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa

1. Lý do chọn đề tài Xã hội hiện đại có những thay đổi toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội và lối sống với tốc độ nhanh đã làm nảy sinh những vấn đề mà trước đây con người chưa gặp, chưa trải nghiệm, chưa phải ứng phó, đương đầu hoặc có những vấn đề đã xuất hiện trước đây nhưng nó chưa phức tạp, khó khăn và đầy thách thức như trong xã hội hiện đại nên con người dễ hành động theo cảm tính và không tránh khỏi rủi ro. Nói cách khác, để đến bến bờ thành công và hạnh phúc trong cuộc đời, con người sống trong xã hội trước đây ít gặp những rủi ro và thách thức như con người sống trong xã hội hiện đại. Chính vì vậy, con người trong xã hội hiện đại cần phải có kỹ năng sống để đáp ứng những thách thức và thời cơ trong quá trình toàn cầu hóa mà mục đích chính là nâng cao chất lượng con người và chất lượng cuộc sống. Người ta đã dùng hình ảnh cây cầu và dòng sông để diễn tả sự cần thiết của kỹ năng sống đối với mỗi người. Con người sống trong xã hội hiện đại muốn sang được bến bờ của thành công và hạnh phúc thì phải vượt qua con sông chứa đầy những rủi ro, nguy cơ, thách thức như AIDS, mang thai ngoài ý muốn, nghiện rượu, ma túy, bệnh lây nhiềm qua đường tình dục, chết vì bạo lực, vi phạm pháp luật, thất bại học đường Khi đó những kỹ năng sống như những nhịp cầu tạo thành cây cầu giúp cho con người chuyển tải những điều đã biết làm thay đổi được hành vi, nhờ đó mà sang bờ bên kia của lối sống lành mạnh đảm bảo chất lượng cuộc sống (xin xem sơ đồ dưói). Tiến hành giáo dục kỹ năng sống là tiếp cận giáo dục quốc tế, đó là giáo dục con người về môi sinh, giáo dục con người vì hòa bình nhân loại, giáo dục vì cuộc sống chung, vì ngôi nhà chung là thế giới. Do đó mà mỗi cá nhân, mỗi dân tộc phải cố gắng để một mặt chấp nhận người khác có thể suy nghĩ và xử lý khác mình và mặt khác còn tin rằng cách sống của mình không có sự cao siêu hơn người khác. Sự cố gắng nói trên là cần thiết khi không gian cuộc sống ngày càng xích lại gần nhau hơn, sự phụ thuộc vào nhau tăng lên trên thế giới, bắt buộc chúng ta phải “nhìn vào” người khác dù rằng chúng ta không muốn làm như vậy đi chăng nữa thì đó vẫn là điều cần thiết. Trong số 15 nội dung cơ bản về giáo dục vì sự phát triển bền vững đã được UNESCO xác định có nhiều nội dung thống nhất với nội dung giáo dục kỹ năng sống như: quyền con người, hòa bình và an ninh, bình đẳng giới, đa dạng văn hóa và hiểu biết về giao thoa văn hóa, sức khỏe, HIV/AIDS, các nội dung về môi trường như tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học, sự thay đổi khí hậu, sự phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, kinh tế thị trường. Xét dưới góc độ giáo dục, kỹ năng sống là một biểu hiện của chất lượng giáo dục. Cho nên trong mục tiêu 6 của kế hoạch hành động Dakar (2000) về giáo dục cho mọi người, kỹ năng sống được coi là một khía cạnh của chất lượng giáo dục, đánh giá chất lượng giáo dục cần tính đến những tiêu chí đánh giá kỹ năng sống của người học. UNESCO đã nêu: “Đánh giá chất lượng giáo dục phải bao hàm đánh giá mức độ đạt được các kỹ năng sống và tác động của kỹ năng sống đối với xã hội và cá nhân. Thế hệ trẻ nói chung, sinh viên nói riêng còn một khoảng cách khá xa so với những yêu cầu về con người trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Mặc dầu về học thuật, chúng ta có rất nhiều học sinh, sinh viên học rất giỏi, thậm chí đạt được nhiều thành tích rất cao trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc tế, song kỹ năng sống còn quá non. Mặc dù chúng ta đã tiến hành giáo dục kỹ năng sống qua lồng ghép một môn học từ tiểu học đến phổ thông trung học và triển khai hàng loạt dự án, một số dự án được nước ngoài tài trợ, được thực hiện ở một số địa phương như: Chương trình xóa mù chữ và tăng thu nhập cho phụ nữ năm 1996 – 2000 do UNICEF tài trợ nhằm giáo dục kỹ năng sống cho phụ nữ miền núi. Dự án dân số và sức khỏe sinh sản do PDI (tổ chức dân số phát triển quốc tế) tài trợ đã triển khai trên nhiều địa phương (Quảng Ninh, Nghệ An, Thanh Hóa, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Bình Phước). Sự lồng ghép kỹ năng sống được kiểm định bằng sự nhận thức thông qua thi cử, chưa chú trọng đến hành vi đạt được đến mức thói quen, nhu cầu của con người. Các dự án chủ yếu hướng vào các đối tượng ít có cơ hội hoặc nguy cơ cao. Chúng ta đã và đang bước đầu giáo dục kỹ năng sống cho cá nhân, cho cộng đồng nhưng chừng đó vẫn chưa đủ so với yêu cầu chung của giáo dục kỹ năng sống và còn một khoảng cách rất lớn mới đáp ứng được những đòi hỏi của thời kỳ hội nhập. Ký túc xá của các trường CĐ, ĐH là nơi ở của sinh viên, là một xã hội thu nhỏ, nơi đó đã và đang diễn ra học tập, nghiên cứu, giao lưu, vui chơi, giải trí và cả những điều không tốt như uống rượu, cờ bạc, thậm chí cả ma túy v.v Có thể nói cuộc sống ở ký túc xá đa dạng, không ít phức tạp và cạm bẫy. Dân cư của xã hội đó là sinh viên, một thế hệ đầy triển vọng của sự thành công đều xuất thân từ vùng nông thôn (hiện nay ký túc xá chủ yếu giải quyết cho sinh viên vùng sâu, vùng xa, con em thương binh, liệt sĩ). Các nhà quản lý đã và đang đau đầu với vấn đề sinh viên nội trú, mặc dù đã đưa ra nhiều biện pháp giáo dục nhưng kết quả chưa được như mong đợi. Một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng trên là sinh viên chưa có những kỹ năng sống phù hợp với môi trường sống ở ký túc xá. Với tất cả lý do trên nên tôi nghiên cứu đề tài: “Biện pháp giáo dục kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa” để thực hiện luận văn thạc sĩ. 2. Mục đích nghiên cứu Xác định hệ thống kĩ năng sống và các biện pháp giáo dục kỹ năng sống đó cho sinh viên nội trú thông qua công tác giáo viên chủ nhiệm ở trường Cao đẳng sư phạm. 3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3.1. Khách thể nghiên cứu Hoạt động giáo dục sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa. 3.2. Đối tượng nghiên cứu Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa. 4. Giả thuyết khoa học Các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên nội trú sẽ mang lại hiệu quả nếu giáo viên chủ nhiệm biết dựa vào những kỹ năng sống cơ bản, phù hợp với đặc điểm tâm lý và xã hội của sinh viên, với môi trường sống ở ký túc xá và kết hợp tác động này với nhiệm vụ giáo dục sinh viên nói chung. 5. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu 5.1.1. Xác định cơ sở lý luận và thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên nội trú trường cao đẳng sư phạm trong công tác giáo viên chủ nhiệm. 5.1.2. Xác định hệ thống kỹ năng sống phù hợp với đặc điểm sinh viên trường Cao đẳng sư phạm trong môi trường nội trú. 5.1.3. Xây dựng các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên nội trú trong công tác giáo viên chủ nhiệm. 5.1.4. Thực nghiệm sư phạm. 5.2. Phạm vi nghiên cứu - Giới hạn kỹ năng sống ở lứa tuổi sinh viên cao đẳng. - Nghiên cứu trong điều kiện sống nội trú của sinh viên Cao đẳng sư phạm Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. 6. Phương pháp nghiên cứu 6.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận - Tổng quan lý thuyết. - Khái quát hóa. - Phân tích logic – lịch sử 6.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phương pháp điều tra giáo dục. - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm. - Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động. - Phương pháp thực nghiệm. 6.3. Các phương pháp khác - Phương pháp chuyên gia. - Phương pháp sử dụng toán thống kê.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC