Luận văn Điều tra hiệu quả nuôi tôm Sú (Penaeus monodon) rải vụ ở tỉnh Sóc Trăng

Việt Nam có tiềm năng lớn cho nuôi trồng thủy sản nước lợ. Năm 2005, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản nước lợlà 641.045 ha, với sản lượng đạt được 546.716 tấn. Diện tích nuôi tôm nước lợlà 604.479 ha, chiếm 94,3% tổng diện tích nuôi nước lợ. Sản lượng tôm nước lợ đạt 324.680 tấn (BTS, 2006). Nghề nuôi tôm nước lợ được phát triển vào đầu những năm 1990. Nghềnuôi tôm nước lợ đã đem lại lợi nhuận rất cao, nhưng cũng đối mặt với nhiều rủi ro từ dịch bệnh. Năm 1994-1995, dịch bệnh tôm gây thiệt hại lớn ở các mô hình nuôi tôm quảng canh và thâm canh, nguyên nhân là do diện tích nuôi tôm và mức độ thâm canh tăng nhanh trong khi người nuôi thiếu kỹ thuật, kinh nghiệm nuôi, vốn và hệthống cơsởhạtầng trong nuôi tôm nước lợcòn rất nhiều hạn chế(BTS, 2006). Trong khoảng thời gian từ1999-2005, diện tích nuôi tôm nước lợtăng 2,9 lần. Trong khi đó, sản lượng tôm nuôi tăng 5,1 lần chứng tỏ rằng mức độ thâm canh đang được gia tăng. Năm 2005, tôm sú là loài nuôi chính đạt sản lượng 290.987 tấn, so với tổng sản lượng tôm nuôi nước lợ là 324.860 tấn (BTS, 2006). Mặc dù sản lượng tôm nuôi có chiều hướng gia tăng nhưng lợi nhuận thu được trên đơn vịdiện tích nuôi có chiều hướng giảm do giá thức ăn, nhiên liệu, điện và hóa chất tăng (BTS, 2006). Nhìn chung diện tích nuôi tôm nước lợcủa mô hình quảng canh và quảng canh cải tiến là chủyếu chiếm 88,8% tổng diện tích. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng nuôi tôm nước lợquan trọng nhất so với cả nước. Năm 2005, diện tích nuôi tôm nước lợ của ĐBSCL đạt 535.145 ha chiếm 88,5%, với sản lượng tôm nuôi đạt 263.560 tấn chiếm 81,2% so với cả nước. Các mô hình nuôi tôm nước lợ ở ĐBSCL bao gồm: quảng canh (QC), quảng canh cải tiến (QCCT), bán thâm canh (BTC), thâm canh (TC), nuôikết hợp tôm rừng và luân canh tôm-lúa. Các tỉnh nuôi tôm nước lợ ở ĐBSCL là Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liệu, Cà Mau, Kiên Giang và Hậu Giang (BTS, 2006).

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC