Luận văn Lập biểu thương phẩm cho một số loài cây khai thác chính rừng thường xanh Kon Hà Nừng - Gia Lai

Khoa học ñiều tra ño cây ñã xuất hiện tương ñối rõ hai hướng trong việc xác ñịnh thể tích cây ñứng và trữ lượng lâm phần. Thứ nhất, người ta dùng những phương pháp và công thức ñơn giản với ñộ chính xác không cao, nhưng nhanh, rẻ, ñáp ứng ñược những yêu cầu nhất ñịnh. Denzin (1929) Y = 0,001d2; trong ñó d là ñường kính ngang ngực của cây. Để ño trữ lượng lâm phần, có công thức của N.V.Tretiakov M = O(H-K)P và biểu ñồ tính của N.P. Anoutchin trong ñó O là một hệ số tùy thuộc vào loài cây, nó bằng tích của tổng tiết diện ngang với hình số, H là chiều cao bình quân của lâm phần, K là một hệ số ñiều chỉnh và P là ñộ ñầy. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, xuất hiện thước góc Bitterlich W (1948, 1958, 1961) và một loạt dụng cụ theo nguyên tắc của BitterlichN.P. Anoutchin (1962), Becrs T.W. và Miller C (1964) , thước góc ño cao của Hirata T. (1956). Đi ñôi với các dụng cụ ấy là khái niệm về trữ lượngcơ bản của Dvoretski M.L. (1964) V= Ghf. Thứ hai, người ta dùng những phương pháp phức tạp hơn nhằm ñảm bảo ñộ chính xác cần thiết cho những yêu cầu nhất ñịnh của sản xuất và nghiên cứu 3 khoa học. Trữ lượng lâm phần ñược xác ñịnh qua việcño một số nhân tố ở từng cây. Theo phương hướng này, có thể áp dụng phương pháp cây tiêu chuẩn hoặc dùng biểu thể tích. Phương pháp biểu thể tích ñược dùng rộng rãi trong thực tiễn sản xuất và trong nghiên cứu khoa học. Lý luận và phương pháp lập biểu luôn luôn tiến lên theo yêu cầu của sản xuất, của nghiêncứu khoa học và theo phương hướng ngày càng tinh vi, chính xác. Những vấn ñề cơ bản của lý luận lập biểu thể tích cây ñứng gồm có: Đối tượng lập biểu:Biểu lập trên cơ sở nào và dùng cho ñối tượng nào? lâm phần, rừng cây, lâm hình hay phân tử rừng. Muốngiải quyết vấn ñề này cần nghiên cứu quy luật kết cấu của lâm phần. Kiểu biểu:Biểu lập cho từng loài hay nhiều loài gộp lại, chotừng vùng nhỏ hay vùng lớn. Muốn giải quyết vấn ñề này cần nghiên cứu quy luật về hình dạng bình quân của thân cây. Các nhân tố của biểu:Các nhân tố tạo thành thể tích chủ yếu là ñường kính, chiều cao, hình số. Khi dùng biểu thì phải ñoở mỗi cây ñứng những nhân tố nào ñể tra biểu. Biểu một nhân tố:Biểu cho biết thể tích theo ñường kính. Khi lập phải nghiên cứu quy luật giữa chiều cao, hình số với ñường kính ñể tương ứng với mỗi cỡ ñường kính có thể chấp nhận một trị số bình quân về chiều cao và hình số. Chiều cao biến ñộng rất lớn cho nên thường ñược chia thành nhiều cấp. Tương ứng với mỗi cỡ ñường kính thì trong mỗi cấp chiều cao chấp nhận một chiều cao bình quân nào ñó. Hình số cũng có thể ñược tính bình quân trong phạm vi mỗi cấp chiều cao. Biểu hai nhân tố(Đường kính và chiều cao): Vì ở mỗi cây người ta ño ñường kính và chiều cao trực tiếp mà không cần ước lượng chiều cao qua ñường kính nên không cần tìm quy luật tương quan giữa chiều cao và ñường kinh mà tìm quy luật tương quan của hình số với ñường kính hoặc chiều cao ñể ñối với mỗi tổ hợp ñường kính và chiều cao có thể chấp nhậnmột hình số bình quân nào ñó.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC