Luận văn Nghiên cứu sản xuất cá Trê Phi Clarias gariepinus (Burchell, 1822) đực bằng Hormone 17-Α MethylTestosterone

Đồng Bằng Sông Cửu Long có khoảng 950.000 ha diện tích mặt nước, chiếm 29,7% diện tích đồng bằng. Trong đó, diện tích mặt nước lợkhoảng 310.000 ha (chiếm 32,8%), thủy vực nước ngọt và nhiễm phèn (chiếm 67,2%). Đây là nơi phát triển nghềnuôi trồng thủy sản (Nguyễn Văn Thường và ctv, 1994). Cá trê phi Clarias gariepinuslà loài cá da trơn sống trong nước ngọt có nguồn gốc ởchâu phi. Theo Graaf và ctv(1996), ởnhiều quốc gia châu phi cá trê phi Clarias gariepinus được đánh giá rất cao về tốc độ tăng trưởng và khả năng chống chịu của cá và cá đã được thực hiện sinh sản nhân tạo bằng hormon thành công bởi các tác giả: Hogendoorn và ctv (1976); Hogendoorn và ctv (1980); Micha (1976); Kelleher và ctv(1976); El Bolock (1976). Cá trê phi sống được trong các môi trường nước nhưao, hồ, sông, đầm, , và nổi bật là có thểthích nghi với điều kiện nuôi khắc nghiệt, pH dao động từ6,5 đến 8,0; nhiệt độdao động từ8 o C đến 35 o C, tuy nhiên nhiệt độthích hợp nhất cho tăng trưởng là 28 o C đến 30 o C (Teugels, 1986). Cá sống được trong môi trường oxy thấp nhờcó cơ quan hô hấp phụ (Pienaar, 1968). Theo Liêm và ctv(2008) cho biết cá trê có sức đềkháng cao với vi khuẩn Aeromonas hydrophila(vi khuẩn gây bệnh lởloét). Cá trê phi Clarias gariepinuscó tốc độtăng trưởng cao và trọng lượng (cá trưởng thành) con đực lớn hơn con cái (Skelton, 1993). Kích cỡthu hoạch của cá trê phi tùy thuộc vào mật độnuôi, từ đócó thể điều chỉnh mật độnuôi nuôi cho phù hợp (Graaf và ctv, 1996). Cá nuôi được với mật độcao, sau 5 tháng nuôi kểtừkhi mới sinh đạt được 200 gr/con (Hogendoorn, 1983). Cá trê phi nuôi lớn nhanh, sau 6 tháng nuôi cá đạt bình quân 01kg/con (Ngô Trọng Lư và ctv, 2002). Ở Việt Nam, cá trê phi được De Kimpe, một chuyên gia thủy sản người Pháp nhập vào miền Nam cuối năm 1974 (Nguyễn Tường Anh, 2005).

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC