Luận văn Nghiên cứu Thành phần thiên địch của rệp muội hại ngô; đặc điểm sinh học, sinh thái của bọ rùa scymnus hoffmanni weise vụ đông 2009 và xuân 2010 tại gia lâm, hà nội

Sau lúa mỳvà lúa gạo, ngô (Zea mays L.) là loại ngũcốc quan trọng nhất trên thếgiới, cung cấp chất dinh dưỡng cho con người và động vật, đồng thời là nguyên liệu cho sản xuất tinh bột, dầu, protein, đồuống chứa cồn, chất làm ngọt và gần đây là nhiên liệu, cây xanh được sửdụng đểlàm silage (thức ăn ủ) đã thành công trong chăn nuôi bò sữa và bò thịt. Tuy đứng thứba vềdiện tích gieo trồng, sau cây lúa nước và lúa mỳnhưng đứng đầu vềnăng suất và sản lượng trong các cây cốc nên cây ngô góp phần nuôi sống 1/3 dân sốthếgiới. Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA, 2010) [69], năm 2009 diện tích trồng ngô trên thếgiới là 156,04 triệu ha, năng suất 5,18 tấn/ha và sản lượng đạt kỉlục với 808,8 triệu tấn. Theo dựbáo của công ty Monsanto, vào năm 2030 nhu cầu ngô thếgiới tăng 81% so với năm 2000 (từ608 triệu tấn lên 1 098 triệu tấn). Nhưng 80% nhu cầu ngô tăng (khoảng 266 triệu tấn) tập trung ởcác nước đang phát triển. Tổng sản lượng ngô các nước công nghiệp chỉcó thểxuất sang các nước đang phát triển khoảng 10% tổng sản lượng thếgiới. Vì vậy các nước đang phát triển phải tự đáp ứng nhu cầu của mình trên diện tích ngô không tăng (CIMMYT, 2008) [44]. Theo dựbáo của Viện nghiên cứu Chính sách Lương thực Quốc tế đến năm 2020 thì nhu cầu sửdụng ngô tại các nước đang phát triển sẽvượt quá nhu cầu so với lúa mì và lúa nước. Dựbáo nhu cầu ngô của thếgiới có thểtới 837 triệu tấn vào năm 2020 (CIMMYT, 2001) [43]. Chính vì vậy mà diện tích ngô ngày càng gia tăng và được trồng ởnhiều nơi trên thếgiới. Ngành sản xuất ngô thếgiới tăng liên tục từ đầu thếkỷXX đến nay, nhất là hơn trong 40 năm gần đây. ỞViệt Nam, năng suất ngô tăng nhanh liên tục với tốc độcao hơn trung bình thếgiới trong suốt hơn 20 năm qua. ðến năm 2007, Việt Nam đạt diện tích 1 072 800 ha, năng suất 39,6 tạ/ha, sản lượng vượt ngưỡng 4 triệu tấn – 4 250 900 tấn, cao nhất từtrước đến nay (Phan Xuân Hào, 2007) [11]. Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩnông nghiệp . 9 Ngày nay cùng với sựthâm canh cao và việc sửdụng nhiều loại thuốc hóa học làm thay đổi cân bằng tựnhiên cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến các loài sâu hại trên ngô ngày càng gia tăng, làm ảnh hưởng đáng kể đến năng suất và chất lượng ngô thu hoạch. Trong các nguyên nhân đó không thể không nhắc tới các loài sâu hại như: sâu cắn lá ngô, sâu đục thân ngô, sâu xám, rệp ngô, ðối với cây ngô, rệp muội hại ngô là m ột trong những loài sâu hại quan trọng. Rệp hút nhựa ởtrên nõn ngô, bẹlá, bông cờ, lá bi làm cho cây ngô mất chất dinh dưỡng, trởnên gầy yếu, bắp bé đi, chất lượng hạt xấu kém. Tuy nhiên phương pháp duy nhất mà người nông dân lựa chọn không ngần ngại là phun thuốc hóa học, với các loại thuốc phổbiến như: Trebon, Sumicidin 10EC/20EC, Regent 800WG Sựgia tăng sửdụng thuốc bảo vệthực vật trong những năm gần đây đã ảnh hưởng không nhỏ đến côn trùng có ích, động vật hoang dã, làm ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng xấu đến sức khoẻcon người (Bùi SỹDoanh và CTV, 1993) [7]. Nông nghiệp Việt Nam đang hướng tới một nền nông nghiệp sạch, nông nghiệp sinh thái, trong đó biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là nòng cốt. Việc sửdụng các loài thiên địch sẽmởra một hướng đi mới trong sản xuất nông nghiệp. Do đó nghiên cứu các loài thiên địch của sâu hại ngô ngày càng được quan tâm và chú trọng, đểtừ đó đềxuất các biện pháp bảo vệ, khích lệsựgia tăng của các loài thiên địch trên đồng ruộng cũng nhưphát huy tối đa được hiệu quảphòng trừcủa chúng ngoài đồng ruộng. Thành phần thiên địch của rệp muội hại ngô có khá nhiều loài, trong đó các loài bọrùa ăn thịt có vai trò quan trọng và chiếm ưu thếtrên ruộng ngô và bọrùa Scymnus hoffmanniWeise là một trong những loài đó. Do vậy chúng tôi đã tiến hành đềtài: “Thành phần thiên địch của rệp muội hại ngô; đặc điểm sinh học, sinh thái của bọrùa Scymnus hoffmanni Weise vụ đông 2009 và xuân 2010 tại Gia Lâm, Hà Nội”

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC