Luận văn Phân tích đánh giá nhu cầu hợp tác của nông hộ và đề xuất giải pháp phát triển kinh tế hợp tác ở tỉnh Hậu Giang

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1.1 Sự cần thiết nghiên cứu Từ ngàn xưa, nông nghiệp đã đóng vai vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhận định:“Nước ta là một nước nông nghiệp Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính” [4, 28]. Một đất nước với hơn 80% dân số là nông dân, với truyền thống trồng lúa nước mấy nghìn năm, lại có tiềm năng lớn về đất đai, lao động, ngành nghề ở nông thôn thì câu nói của Bác là một tất yếu cả về lí luận lẫn thực tiễn. Và người còn giải thích rõ: “Vì nông nghiệp là nguồn cung cấp lương thực và nguyên liệu, đồng thời là nguồn xuất khẩu quan trọng, nông thôn là thị trường tiêu thụ to nhất hiện nay, cho nên cần phải cải tạo và phát triển nông nghiệp thì mới có cơ sở để phát triển các ngành nghề kinh tế khác ” [4, 28]. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cơ sở để phát triển được một nền nông nghiêp mạnh thì yếu tố cốt lõi chính là làm sao phải phát triển được kinh tế nông hộ - hạt nhân trong hoạt động nông nghiêp được vững chắc. Nhận thức được điều đó, nên trong những năm qua Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu đãi đăc biệt đối với thành phần kinh tế này. Tuy nhiên, đối với nước ta mà đăc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long tốc độ phát triển sản xuất hàng hóa nông sản tăng nhanh đã bộc lộ mâu thuẩn ngày càng tăng giữa cung cầu do thị trường nông thôn bị bỏ ngỏ, lưu thông hàng hóa nông sản phải qua nhiều khâu trung gian. Người sản xuất bị thua thiệt, nhưng do còn nặng độc canh cây lúa buộc họ phải tăng đầu tư để tăng khả năng cạnh tranh. Thông tin giá cho các hộ sản xuất thì chiếm 80% là từ truyền miệng, còn thông tin giá cho các doanh nghiệp thì 100% là từ điện thoại, fax của các đầu mối thông tin thị trường. Hệ thống các doanh nghiệp và thương lái đã chiếm lợi thế rất lớn về mặt thông tin giá đối với các hộ nông dân. Đứng trước các yếu tố phát sinh đó, các nông hộ buộc phải tìm đến sự liên kết kinh tế bằng các hình thức đa dạng cả bề rộng và bề sâu để phát triển sản xuất, thực hiện mục tiêu nâng cao thu nhập và tự bảo vệ. Tuy nhiên, nhu cầu hợp tác còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: Mức độ phát triển của lực lượng sản xuất, tiềm năng tài nguyên, mức độ khuyến khích của chính sách kinh tế vĩ mô, mức độ phát triển của kinh tế thị trường, sự chín muồi về nhận thức và trình độ của nông dân Bởi vậy nhu cầu đó xuất hiện một cách không đồng đều giữa các vùng sinh thái nông nghiệp, giữa các loại hộ gia đình, các thời kỳ phát triển kinh tế. Cho nên chúng ta cần căn cứ vào thực tế của từng địa phương, từng huyện xã để xác lập cho đúng các hình thức kinh tế phù hợp bởi vì nếu thành lập các khu vực kinh tế không thích hợp thì chẳng những không phát huy được tác dụng mà còn gây nên sự lãng phí, đi sai phương hướng, đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà Nước. Và Hậu Giang là một điển hình vì tính không hiệu quả của hình thức kinh tế hợp tác. Theo thống kê thì Toàn tỉnh Hậu Giang hiện có 112 HTX NN và 2.634 tổ hợp tác nhưng trong thực tế thì đa số các HTX thì chỉ hoạt động cầm chừng, có hình thức; có nhiều HTX đã giải thể và chờ giải thể. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để Tỉnh Hậu Giang phát triển kinh tế hợp tác thông qua việc củng cố các HTX hiện có và xây dựng các HTX mới đủ mạnh để mang lại lợi ích chung cho cộng đồng, nhân dân có lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước ở địa phương để rồi chung sức, chung lòng xây dựng quê hương Hậu Giang đi lên vững chắc. Việc này chỉ có thể được tiến hành thành công khi mà ta xây dựng HTX trên nhu cầu mong muốn thực sự của nông dân và phải tìm ra được những hạn chế vốn có của loại hình kinh tế này để có được hướng khắc phục. Chính vì sự quan trọng đó, nên em chọn đề tài “Phân tích đánh giá nhu cầu hợp tác của nông hộ và đề xuất giải pháp phát triển kinh tế hợp tác ở tỉnh Hậu Giang” để nghiên cứu trong thời gian thực tập tốt nghiệp. 1.1.2 Căn cứ khoa học và thực tiễn Hợp tác đó là phương thức tồn tại và phát triển của lao động con người, xuất phát từ bản chất xã hội của lao động. Các Mác đã nói rằng “ Sự hiệp tác trong quá trình lao động, như chúng ta thấy, nó thống trị trong buổi đầu của nền văn minh của loài người” [4,12]. Lao động con người có tính chất xã hội và do đó, trao đổi lao động giữa người là phương thức của bản thân hoạt động lao động dưới bất cứ hình thức nào của lao động xã hội. Đồng thời, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ lao động của con người cũng phát triển theo và có những hình thức xã hội tương ứng. Trong điều kiện của kinh tế tự nhiên, quan hệ lao động giữa người với người mang tính chất trực tiếp, nên hợp tác xuất hiện dưới hình thức là đổi công lao động cho nhau. Trong điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa, thì hợp tác xuất hiện dưới nhiều hình thức đa dạng, phong phú, ngày càng có ý nghĩa quan trọng hơn. Vai trò quan trọng trong việc hợp tác về kinh tế lẫn đường lối chính trị đã được Đảng và Nhà nước tiếp thu và đang từng bước phát triển để góp phần vào công cuộc đổi mới của đất nước. Trong Nghị quyết số 13-NQ/TW Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể đã xác định: “Kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt”, “kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân". Theo hướng đó, cần củng cố những tổ hợp tác và hợp tác xã hiện có, tiếp tục phát triển rộng rãi kinh tế hợp tác xã với hiều hình thức, quy mô, trình độ khác nhau trong các ngành, lĩnh vực địa bàn có điều kiện. Kinh tế tập thể với hình thức phổ biến là các tổ hợp tác và hợp tác xã; trong lĩnh vực nông nghiệp, trước hết tập trung làm các dịch vụ đầu vào, đầu ra phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của các hộ thành viên, từng bước mở rộng ngành nghề, sản xuất, kinh doanh, tổng hợp; trong lĩnh vực phi nông nghiệp, vừa tổ chức sản xuất vừa kinh doanh dịch vụ. Mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết kinh tế giữa các tổ hợp tác, hợp tác xã với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, nhất là với doanh nghiệp nhà nước. Khi hợp tác xã phát triển đến trình độ cao hơn thì sẽ hình thành các doanh nghiệp của hợp tác xã, các liên hiệp hợp tác xã. Mục tiêu từ nay đến năm 2010 là: Đưa kinh tế tập thể thoát khỏi những yếu kém hiện nay, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn, tiến tới có tỷ trọng ngày càng lớn hơn trong GDP của nền kinh tế từ đó nâng cao được lòng tin của nông dân đối với sự hiệp tác trong lao động. Khi chuyển sang kinh tế hàng hóa, phân công lao động xã hội phát triển, nhất là trong điều kiện sản xuất hàng hóa mang tính phổ biến dưới thời kỳ thống trị của chủ nghĩa tư bản, hợp tác kinh tế dưới mọi hình thức trở thành phương thức thống trị, trong đó bao hàm cả trong lĩnh vực nông nghiệp. Như Các Mác đã phân tích trong bộ Tư Bản , kinh tế hợp tác trở thành yếu tố nội sinh của nền kinh tế được phát triển trên cơ sở xã hội hóa ngày càng cao. Trong tác phẩm “Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga” khi phân tích nền kinh tế nông nghiệp thương phẩm ở Nga trong điều kiện phát triển của chủ nghĩa tư bản, V.I Lênin đã cho thấy rằng, khởi điểm của trình chuyển sang kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp, cũng tức là điểm xuất phát lịch sử của quá trình chuyển kinh tế nông thôn truyền thống, lạc hậu, tự cung, tự cấp sang kinh tế nông nghiệp văn minh, hiện đại, nền kinh tế nông nghiệp thương phẩm. Điều mà Lênin chú ý nhất là quá trình tiến hóa kinh tế hàng hóa ở nông thôn là sự tiến hóa của bản thân hộ chủ thể kinh tế của nông dân với tính cách là tế bào của kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp. Do đó, các hình thức kinh tế hợp tác ở đây, trước hết phải lấy hộ kinh tế của nông dân làm cơ sở. Còn đối với Hồ Chí Minh thì cho rằng muốn phát triển nền kinh tế nước ta đưa nước ta thoát khỏi nạn nghèo đói, lạc hậu thì phải bắt đầu bằng nông nghiệp, nông dân và bằng con đường dẫn dắt nông dân đi vào hợp tác xã tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Cả về lý luận và thực tiễn, kinh tế hợp tác và nhu cầu hợp tác của nông dân trong giai đoạn hiện nay là thật sự cần thiết. Sản xuất hàng hoá phát triển, sự cạnh tranh trong kinh tế thị trường gay gắt buộc những người lao động riêng lẻ, hộ cá thể, các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải liên kết, hợp tác với nhau mới có thể tồn tại và phát triển. Bởi vì trong thực tiễn sản xuất của mình, người nông dân gặp phải nhiều khó khăn cả về khâu đầu vào như giống, phân bón, lao động, kỹ thuât đến thị trường đầu ra khi mà người nông dân thường xuyên rơi vào cảnh “ trúng mùa rớt giá “. Chính vì thế ở nước ta, trong quá trình phát triển kinh tế hàng hoá, nông dân ngày càng có nhu cầu tham gia các hình thức kinh tế hợp tác từ thấp đến cao, từ các tổ hợp tác đến HTX, doanh nghiệp nhỏ. Các tổ hợp tác kinh tế cũng như các HTX từng bước phát huy vai trò không thể thiếu của mình trong phát triển kinh tế xã hội. 1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.2.1 Mục tiêu chung Đề tài đánh giá nhu cầu hợp tác của nông hộ ở tỉnh Hậu Giang từ những khó khăn trong sản xuất nông nghiệp mà bản thân hộ không giải quyết được. Bên cạnh đó, đề tài cũng đánh giá thực trạng khó khăn trong hoạt động của các HTX NN để có phương hướng đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện và nhân rộng mô hình HTX NN ở tỉnh Hậu Giang phù hợp với nguyện vọng của các thành viên cộng đồng. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể  Đánh giá tổng quan về tình hình hoạt động nông nghiệp của nông hộ.  Tìm hiểu những khó khăn mà người nông dân gặp phải trong quá trình sản xuất nông nghiệp, những khó khăn mà nông hộ không giải được. Từ đó, đánh giá nhu cầu hợp tác của nông hộ.  Đánh giá thực trạng hoạt động của các HTX trong toàn tỉnh và đề xuất giải pháp đối với các HTX. 1.3 GIẢ ĐỊNH VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 1.3.1 Giả thuyết kiểm định Giả thuyết 1: Các nông hộ đều có nhu cầu hợp tác ở một số lĩnh vực Giả thuyết 2: Các nông hộ có trình độ, độ tuổi, giới tính và nhận được sự quan tâm của chính quyền khác nhau sẽ có nhu cầu hợp tác như nhau. Giả thuyết 3: Thu nhập giữa hộ vào hợp tác xã và không vào hợp tác xã là như nhau. 1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, bà con đang gặp những khó khăn gì? Những khó khăn nào bà con không giải quyết được? Bà con cần hợp tác ở những lĩnh vực nào để giải quyết những khó khăn trên? Thực trạng hoạt động của HTX có những khó khăn gì? Những câu hỏi được lập ra trên cơ sở để thu thập những thông tin cơ bản về tình hình sản xuất cũng như những khó khăn mà các nông hộ hiện nay đang gặp phải. Từ đó, chúng ta có thể đánh giá được những nhu cầu hợp tác của nông hộ và các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu đó. Từ đó chúng ta sẽ có được những căn cứ sát đáng để có thể đề ra được những phương hướng đúng đắn và hợp lý. 1.4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.4.1 Phạm vi không gian Đề tài chọn tỉnh hậu Giang làm địa bàn nghiên cứu. Ngoài những nguồn thông tin thứ cấp thu thập được tại địa phương, đề tài còn chọn thêm 3 huyện: Châu Thành, Huyện Phụng Hiệp và Huyện Long Mỹ và 100% HTX trong cả tỉnh để thu thập số liệu sơ cấp thông qua việc phỏng vấn trực tiếp các hộ dân và các chủ nhiệm HTX. 1.4.2 Phạm vi về thời gian Đề tài thu thập số liệu thông qua việc phỏng vấn trực tiếp người dân, các HTX trong 2 năm 2006-2007 1.4.3 Phạm vi về nội dung Đề tài làm rõ thực trạng hoạt động của kinh tế hộ, của các HTX, lợi ích đạt được; khảo sát đánh giá nhu cầu hợp tác của hộ và đề xuất phương hướng giải quyết đối với những tồn tại của HTX. Đề tài có 6 chương: Chương I: Đây là chương giới thiệu, cho biết về sự cần thiết phải nghiên cứu về nhu cầu hợp tác của nông hộ, mục tiêu của việc nghiên cứu, lược khảo tài liệu. Chương II: Trình bày về phương pháp luận của đề tài, những vấn đề liên quan đến đề tài và phương pháp được sử dụng trong việc nghiên cứu để làm sáng tỏ cho mục tiêu được đưa ra. Chương III: ở chương này sẽ trình bày việc đánh giá nhu cầu hợp tác của nông hộ thông qua phân tích những khó khăn để mà phát sinh nên những nhu cầu đó và các nhân tố có ảnh hưởng đến nhu cầu hợp tác đó. Chương IV: trình bày về thực trạng hoạt động của HTX NN Chương V: trình bày giải pháp phát triển HTX NN ở Hậu Giang Chương VI: trình bày kết luận lại những kết quả vừa phân tích và kiến nghị đối với bản thân HTX và các cấp chính quyền.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC