Luận văn Sự biến động thành phần loài và số lượng thực vật nổi trong hệ thống nuôi cá tra thâm canh

Nuôi t rồng thủy sản (NTTS) hàng năm trên t hế giới t ăng nhanh cả về di ện tí ch và sản l ượng. Theo thống kê của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Li ên Hiệp Quốc (FAO) ước tí nh khối l ượng thu ỷ sản nuôi sẽ t ăng 28,8 tri ệu tấn l ên 80, 5 tri ệu t ấn vào năm 2030 để đáp ứng nhu cầu ngày càng t ăng lên trong tương l ai . (Vinanet,2008). Bên cạnh đó thì NTTS ở Viêt Nam cũng phát t riển khá nhanh đặc bi ệt l à Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với tình hì nh nuôi cá Tra thâm canh ở mức cao. Theo bộ Thủ y Sản (2007), ĐBSCL có t ổng di ện tí ch nuôi cá Tra, Basa t rên 5.600ha. Các tỉ nh có di ện tí ch nuôi tập t rung nhi ều nhất hi ện nay l à An Gi ang, Đồng Tháp, Cần Thơ , Vĩnh Long, Sóc Trăng , Bến Tre ( Bộ Thủy Sản, 2008). Sự tăng nhanh về sản lương và nâng suất cá Tra, Basa từ năm 2004 đến nay gâ y ô nhiễm l ên môi t rường nước. Điều đáng lo ngại l à di ện tí ch nuôi cá Tra, Basa tăng thì nguồn nước và ô nhi ểm môi trường ngà y càng nghi êm t rọng ảnh hưởng đến nước si nh hoạt của dân cư. Lê Văn Cát (2006) động vật thủy sản chỉ hấp thu được khoảng 25 – 30 % những phần có í ch t rong thức ăn tổng hợp, phần dư l ại tồn t ại t rong ao nuôi, trong nước, bùn hoặc bị mất vào không khí và chúng chuy ển hóa l iên tục gâ y tì nh trạng bi ến động môi trường nước ao nuôi. Vì vậ y bên cạnh sự phát triển bao giờ cũng tồn tại hạn chế đó l à vấn đề ô nhi ễm do nguồn chất thải từ ao cá t hâm canh. Theo Chi cục Bảo vệ môi trường khu vực Tâ y Nam Bộ (2007), các nguồn chất thải trong nuôi trồng thu ỷ sản ở khu vực ĐBSCL hàng năm thải ra 450 t riệu m 3 bùn thải và chất thải chưa được xử l ý. Riêng chất thải nuôi cá Tra và cá Basa trên 2 tri ệu t ấn/ năm. Các chất này l à do thức ăn dư t hừa, thối rữa bị phân huỷ , các chất tồn dư t rong sử dụng hoá chất, thuốc kháng sinh, vôi tạo thành chất độc t rong môi t rường nước. Đặc bi ệt chất t hải ao nuôi công nghiệp có chứa trên 45% Nitrogen và 22% chất hữu cơ khác gâ y nên hiện tượng phú dưỡng môi trường nước l àm phát si nh t ảo độc trong môi trường nuôi trồng t hủ y sản và khi vượt mức cho phép sẽ l àm mất cân bằng si nh thái trong nuôi trồng thu ỷ sản dẫn đến cá Tra, cá Basa chết hàng l oạt trên di ện rộng vừa qua ở ĐBSCL.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC