Luật Quyền tác giả tác phẩm văn học và nghệ thuật của Thụy Điển

Điều 1:Bất kỳngười nào sáng tạo ra tác phẩm văn học hoặc nghệthuật đều có quyền tác giả đối với tác phẩm đó, bất kể đó là: 1. Sựthểhiện mang tính hưcấu hoặc miêu tảtrong bài viết hoặc bài nói; 2. Chương trình máy tính; 3. Tác phẩm âm nhạc hoặc tác phẩm kịch; 4. Tác phẩm điện ảnh; 5. Tác phẩm nhiếp ảnh hoặc các tác phẩm mỹthuật khác; 6. Tác phẩm kiến trúc hoặc tác phẩm mỹthuật ứng dụng; 7. Tác phẩm được thểhiện dưới hình thức khác. Bản đồvà những loại tác phẩm thiết kếmang tính mô tảkhác nhưbản vẽ, trạm trổ, hoặc hình thức không gian ba chiều cũng được coi là tác phẩm văn học. Những điều được quy định trong luật này liên quan đến chương trình máy tính sẽ được áp dụng với những sửa đổi thích hợp cho những tài liệu dự phòng của chương trình máy tính. Điều 2. Với những giới hạn được nêu dưới đây, quyền tác giảbao gồm quyền độc quyền kiểm soát việc sao chép và cung cấp bản gốc hoặc bản sửa đổi của tác phẩm tới công chúng, việc dịch và cải biên chuyển thểtác phẩm sang loại hình văn học hoặc nghệthuật khác, hoặc bằng các phương tiện kỹthuật khác. Cũng được coi là một bản sao khi những bản ghi tác phẩm được làm bằng các vật liệu có thểsao chép được. Tác phẩm được cung cấp tới công chúng bằng hình thức biểu diễn công cộng, bán, cho thuê, cho mượn bản sao tác phẩm hoặc phân phối dưới các hình thức khác hoặc trưng bày công cộng. Buổi biểu diễn được thực hiện trong khuôn khổcủa các hoạt động thương mại phục vụcho một nhóm người tương đối rộng có quan hệthân thiết cũng được coi là biểu diễn công cộng. Điều 3.Khi tác phẩm được sao chép hoặc được cung cấp tới công chúng thì phải nêu tên tác giảcủa tác phẩm theo phạm vi và cách thức thông thường. Không được thay đổi tác phẩm làm ảnh hưởng đến danh tiếng và uy tín cá nhân của tác giả, và cũng không được cung cấp tới công chúng theo cách thức nêu trên. Tác giảcó thểtừbỏquyền của mình theo Điều này chỉkhi liên quan đến việc sửdụng được giới hạn cũng nhưtới tính chất và phạm vi của chúng. Điều 4. Người thực hiện việc dịch hoặc phóng tác một tác phẩm hoặc thay đổi tác phẩm đó sang một loại hình tác phẩm văn học nghệthuật khác sẽcó quyền tác giả đối với tác phẩm ởloại hình mới đó, nhưng quyền kiểm soát của người này đối với tác phẩm mới phụthuộc vào quyền tác giảtác phẩm gốc. Nếu một người, không bịràng buộc với tác phẩm khác, tạo ra một tác phẩm mới và độc lập, quyền tác giảcủa họsẽ độc lập với quyền tác giảcủa tác phẩm gốc. Điều 5.Một người, bằng cách phối hợp các tác phẩm hoặc các phần tác phẩm, sáng tạo ra một tác phẩm văn học nghệthuật hợp tuyển sẽcó quyền tác giả đối với tác phẩm đó, nhưng quyền của người này sẽkhông được làm ảnh hưởng đến các quyền của các tác phẩm cấu thành. Điều 6. Nếu một tác phẩm có hai hoặc nhiều tác giả, phần đóng góp của họ không tạo thành các tác phẩm độc lập, quyền tác giảthuộc vềcác đồng tác giả. Tuy nhiên, mỗi người trong sốhọ đều có quyền kiện việc vi phạm bản quyền tác phẩm. Điều 7.Người có tên, bút danh thông thường hoặc chữký xuất hiện trên bản sao của tác phẩm hoặc khi tác phẩm được cung cấp tới công chúng, nếu không có bằng chứng ngược lại, thì được coi là tác giảcủa tác phẩm đó. Nếu tác phẩm được công bốmà không có tên của tác giảxuất hiện theo như cách nêu tại đoạn 1, thì người phụtrách xuất bản hoặc nhà xuất bản nếu có tên ghi trên tác phẩm, sẽ đại diện cho tác giảcho tới khi tên của tác giả được nêu trong một xuất bản phẩm mới hoặc trong một thông báo gửi tới BộTưPháp.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC