Nghiên cứu biến động GDP của thị xã Tam Kỳ

GDP là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp nhất, phản ánh kết quả hoạt động sản xuất của một quốc gia, là thước đo đánh giá hiệu qủa sản xuất xã hội không những của toàn bộ nền kinh tế mà còn của từng ngành sản xuất thực hiện trên lãnh thổ kinh tế quốc gia đó. Qua chỉ tiêu GDP người ta đánh giá được mức tăng trưởng kinh tế, thực trạng của nền kinh tế. GDP còn là cơ sở giúp các tổ chức hiểu rõ hơn về nền kinh tế cuả một quốc gia, so sánh kết quả sản xuất xã hội, mức sống, sự giàu nghèo. của quốc gia đó với các quốc gia khác, các nước khác trong khu vực. Nó còn làm cơ sở cho các nhà doanh nghiệp nghiên cứu, xem xét thực tế hoạt động, kết quả các ngành, hiệu quả sử dụng vốn để từ đó có chính sách đầu tư thích hợp, thực hiện liên kết, liên doanh trong việc lập ngành nghề mới trên lãnh thổ kinh tế của quốc gia đó. Không những thế, GDP còn gíp cho các nhàd nghiên cứu kinh tế tầm vĩ mô xem xét thực trạng nền kinh tế nước nhà, từ đó đề ra các chính sách chiến lược kinh tế (ngắn hạn, dài hạn) cho quốc gia, cho vùng, lãnh thổ, cho địa phương. GDP ngoài tính cho một quốc gia còn được tính cho khu vực, thành phố, tỉnh hoặc vùng lãnh thổ trong một quốc gia. Kết cấu của đề tài được chia làm 3 phần chính : Chương 1 : Cơ sở lý luận và thực tế của đề tài Chương 2 : Phân tích biến động GDP của thị xã Tam Kỳ qua ba năm 2000 - 2002 Chương 3 : Kết luận và kiến nghị Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tế của đề tài 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 1.1.1 Những tiền đề cơ bản xác định chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 1.1.1.1Thế nào là hoạt động sản xuất Quan niệm thế nào là sản xuất; những hoạt động nào, những yếu tố nào được coi là tham gia vào quá trình sản xuất ra của cải cho xã hội. Đây là một trong những tiền đề cơ bản xác định chỉ tiêu tổng sản phẩm nội địa (GDP). Trong lịch sử phát triển của nhân loại, đã có nhiều nhà kinh tế chính trị thuộc trường phái này, hoặc trường phái khác cùng với điều kiện lịch sử kinh tế của đất nước trong các thời kỳ đó đã đưa ra những khái niệm về sản xuất và nguồn gốc tạo ra của cải xã hội. Ngày nay, trong bối cảnh mới của hoạt động kinh tế xã hội, vấn đề trên được quan niệm như thế nào ? -Nhà kinh tế Irving Sirken đã khái quát về hoạt động sản xuất : "Là quá trình chuyển hoá các đầu vào bao gồm hàng hoá và dịch vụ, thành các đầu ra (sản lượng) có ích hơn các đầu vào. Sảnphẩm của các đơn vị sản xuất có thể là hữu hình như hàng hoá được sản xuất ra ở các nông trại và nhà máy,nhưng cũng có thể là vô hình, những cái mà chúng ta gọi là dịch vụ do các cửa hàng sữa chữa, trạm phát điện,cửa hàng bán lẻ, trường học, bệnh viện. sản xuất ra". - Theo Tiến sĩ Vũ Quang Việt, cố vấn dự án " Thực hiện hệ thống TKQG ở Việt Nam " (VIE 88.032) thì phạm trù sản xuất là những hoạt động sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ mà có thể giao cho người khác hoặc một đơn vị khác làm thay được.Ăn, ngủ không thuộc phạm trù sản xuất vì không thể giao cho người khác làm thay được. - Có định nghĩa về sản xuất như sau : Sản xuất là mọi hoat động của con người, với tư cách là các nhân, hay một tổ chức bằng năng lực quản lý của mình, cùng với các yếu tố về đất và vốn (tư bản) sản xuất ra những sản phẩm vật chất và dịch vụ hữu ích và có hiệu quả cao nhằm thoả mãn nhu cầu sử dụng để phục vụ cho nhu cầu sử dụng cuối cùng cho đời sống sinh hoạt dân cư và xã hội, xuất khẩu ra nước ngoài, cho tích luỹ để mở rộng sản xuất và đời sống . Quá trình trên tồn tại và vận động khách quan không ngừng được lặp đi, lặp lại trong năm. Như vậy, quá trình hoạt động sản xuất có các đặc trưng chung sau : Là hoạt động có mục đích, có thể làm thay được của con người. Bao gồm cả hoạt động sản xuất sản phẩm vật chất và hoạt động sản xuất sản phẩm dịch vụ, nhằm thoả mãn không chỉ yêu cầu cá nhân mà cả nhu cầu chung toàn xã hội. Toàn bộ sản phẩm vật chất và sản phẩm dịch vụ được sản xuất ra có thể đem bán trên thị trường và không đem bán trên thị trường. Tuy nhiên, tuỳ điều kiện và quy định của từng quốc gia, trong một số trường hợp hoạt động của con người không được coi là hoạt động sản xuất : Những hoạt động tự phục vụ cho mìnhkhông tạo ra thu nhập như : ăn uống, tắm rửa, tự sửa chữa đồ dùnh trong gia đình; Những hoạt động nội trợ khác của hộ gia đình dân cư; Những hoạt động sản xuất và dịch vụ quốc cấm : buôn lậu, buôn ma tuý, hoạt động mê tín dị đoan, chơi hụi, đánh bạc. 1.1.1.2. Lãnh thổ kinh tế : Lãnh thổ kinh tế của một quốc gia là lãnh thổ địa lý của quốc gia đó, không kể phần địa giới các sứ quán, lãnh sự quán, khu vực quân sự, cơ quan làm việc của các tổ chức quốc tế. mà các quốc gia khác, các tổ chức liên hợp quốc, các tổ chức phi chính phủ . thuê và hoạt động trên lãnh thổ quốc gia đó và được tính thêm phần địa giới các tổ chức tương ứng của quốc gia đó thuê và hoạt động trên lãnh thổ địa lý của quốc gia khác. Nói một cách cụ thể lãnh thổ kinh tế của một quốc gia bao gồm : -Lãnh thổ địa lý bao gồm : Đất liền, hải đảo, vùng trời, vùng biển thuộc quốc gia, trừ phần địa giới các sứ quán, lãnh sự quán, khu vực quân sự, cơ quan làm việc của các tổ chức quốc tế. mà các quốc gia khác, các tổ chức quốc tế thuê và hoạt động trên lãnh thổ địa lý của quốc gia đó. -Vùng trời, mặt nước, vùng đất nằm ở vùng biển quốc tế mà ở đó quốc gia được hưởng các quyền đặc biệt về mặt pháp lý như khai thác hải sản, khoáng sản, dầu khí. -Vùng lãnh thổ nằm ở nước khác được chính phủ thuê và hoạt động vì mục đích ngoại giao, quân sự, khoa học . như các sứ quán, lãnh sự quán, các căn cứ quân sự, trạm nghiên cứu khoa học . 1.1.1.3 Đơn vị thường trú: Một tổ chức hay cá nhân đuợc gọi là đơn vị thường trú trên lãnh thổ kinh tế của một quốc gia nếu tổ chức, cá nhân đó thuộc quốc gia sở tại hay nước ngoài có kế hoạch cam kết hoạt động lâu dài(trên 1 năm) và chịu mọi sự kiểm soát về pháp luật của quốc gia đó. Ví dụ: Hãng Điện tử Samsung của Cộng hoà Hàn quốc đang hoạt động ở Việt Nam trong nhiều năm nay là đơn vị thường trú trên lãnh thổ Việt Nam. Xí nghiệp xây dựng cầu đường Z của Việt Nam sang hoạt động ở nước bạn-Lào từ năm 1991 đến nay là đơn vị thường trú của lãnh thổ kinh tế Lào. Theo khái niệm đó, đơn vị thường trú trên lãnh thổ kinh tế của một quốc gia bao gồm : -Các đơn vị sản xuất kinh doanh hoạt động trong các ngành kinh tế thuộc tát cả các hình thức sở hữu : Nhà nước, tập thể, tư nhân, hổn hợp, cá thể . của quốc gia hoạt động trên lãnh thổ địa lý của quốc gia. -Các đơn vị sản xuất kinh doanh hoạt động trong các ngành kinh tế của nước ngoàiđầu tư trực tiếp, hợp tác liên doanh quốc gia với thời gian trên 1 năm. -Các tổ chức hoặc tư nhân của quốc gia đó đi công tác, làm việc ở nước ngoài, kể cả học sinh đi du học ở nước ngoài trên một năm. -Các đại sứ quán, lãnh sự quán, đại diện quóc phòng, an ninh làm việc ở nước ngoài.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC