Tham nhũng trong đầu tư công liệu có giải pháp để khắc phục

1. Dẫn nhập Tham nhũng, tiêu cực trong năm qua diễn ra nghiêm trọng ởhầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, nhất là trong thực hiện các dựán đầu tư, xây dựng cơbản, quản lý, sửdụng đất, nhưvụ: Đềán Tin học hóa các hoạt động hành chính (đềán 112), Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ, vụ PMU18 vụBùi Tiến Dũng, vụkhu Đồng, Quán Nam (Hải Phòng), vụvi phạm trong đền bù giải phóng mặt bằng cầu Thanh Trì (Hà Nội)... Theo đánh giá của Quốc hội, so với vốn đầu tưxây dựng cơbản của năm 2004 là 58.125 tỉ đồng, thì sốtham nhũng bằng 10,91%, nếu so với vốn đầu tưxây dựng cơbản của năm 2005 là 66.800 tỉ đồng thì đã là 9,5% và nếu so với số đầu tưxây dựng cơbản năm 2006 là 81.145 tỉ đồng thì bằng 7,8%. Theo báo cáo của Chính phủtrước Quốc hội con sốthất thoát do tham nhũng gần 8.000 tỉ đồng, nếu đối chiếu với bội chi ngân sách năm 2007 là 13.500 tỉ đồng thì con sốnày chiếm hơn một nửa; hơn hai lần phần thu viện trợkhông hoàn lại (3.000 tỉ đồng) và khoảng 5% thu nội địa của dựtrù năm 2007. Không đáng ngạc nhiên khi mà Tổchức Minh bạch Quốc tế(Transparency International: TI) công bốdanh sách chỉsố đánh giá tham nhũng (Corruption Perception Index: CPI) năm 2006: Việt Nam xếp thứ111 so với 163 quốc gia; năm 2007: Việt Nam xếp 123/173 - nằm trong vùng “báo động đỏ” trên bản đồtham nhũng của thếgiới. 2. Mối liên hệgiữa đầu tưcông và tham nhũng - Lý thuyết ủng hộ đầu tưcông Sau cuộc chiến tranh thếgiới thứ2, trong các tác phNm khoa học của mình, một sốnhà kinh tếnổi tiếng nhưHarrod, Domar, Rostow… đều cho rằng các quốc gia cần gia tăng vốn đầu tư đểthúc đNy tăng trưởng kinh tế, và chỉra mối quan hệcơhọc (tỷlệtưbản và đầu ra) giữa chi đầu tưvà tăng trưởng. Nghĩa là, các nhà kinh tếnày có quan điểm thiên về ủng hộmạnh mẽ, khuyến nghịchính phủnên gia tăng chi đầu tưtrong ngân sách. Khi đánh giá sựphân bổnguồn lực của ngân sách cho chi đầu tưvà chi thường xuyên, họcó khuynh hướng chỉtrích các quốc gia đểtỷphần chi tiêu thường xuyên gia tăng nhanh hơn chi đầu tư. Nói cách khác, họtán thưởng những quốc gia mà ở đó có tỷphần chi cho đầu tưtrong tổng chi tiêu chính phủtăng lên. Nói chung, khuynh hướng trên được thểhiện trong nguyên tắc vàng mà các nhà kinh tếchủtrương ủng hộchính phủcác nước nên thực hiện. Nguyên tắc này đềcao chính sách vay nợcủa chính phủ. 2 Vay nợlà cần thiết, miễn là vay nợdành để đầu tư. Theo họ, rất là hợp lý nếu nhưvay nợ để đầu tư bệnh viện hơn là vay nợ đểthuê mướn bác sỹ, y tá và mua thuốc men… Nguyên tắc này tiếp tục được viện dẫn nhưlà một chính sách tốt, mặc dù thực tế đã cho thấy, các khoản chi thường xuyên nhưchi hoạt động, bảo dưỡng đểduy trì cho cơsởhạtầng hoạt động tốt hoặc chi góp phần tăng thêm tích lũy nguồn nhân lực đểthúc đNy kinh tếbền vững có hiệu quảhơn là chi tiêu vốn đầu tư. - Tính phức tạp của các dựán đầu tưcông và tham nhũng Ứng dụng lý thuyết đầu tưvào thực tiễn biểu hiện qua là chính phủcác nền kinh tế đang phát triển đNy mạnh các chương trình chi đầu tưcông trên cởsởgia tăng bội chi và vay nợ. Đểhiểu được tham nhũng xảy ra trong mối quan hệvới các dựán đầu tưcông, chúng ta khảo sát một sốkhía cạnh phức tạp của dựán công mà nó có thểdẫn đến tham nhũng. Chi đầu tưthường trải qua một quy trình phê chuNn rất phức tạp và Nn chứa nhiều yếu tốtùy tiện; Những quyết định liên quan đến đầu tưcông thường phải trải qua nhiều khâu trong lựa chọn chính sách: (i)kết cấu chung của ngân sách; (ii)quy mô tổng chi đầu tưngân sách nhà nước; (iii)lựa chọn các dựán; (iv)quy mô và thiết kếdựán. Trong sốcác quyết định này, một sốcán bộcao cấp thường tham gia kiểm soát và gây ảnh hưởng đáng kể đến việc ra quyết định ởkhâu (iii)và (iv).Kết quảcó thểxảy ra tình trạng: dựán được đầu tưkhi chưa thực sựcần thiết phải đầu tư; dựán được đầu tưvới quy mô, công suất không phù hợp so với nhu cầu; dựán được đầu tưvới yêu cầu kỹ thuật và mỹthuật không phù hợp so với nhu cầu; dựán được đầu tư ở địa điểm và thời điểm không hợp lý; thiết bịvà công trình của dưán có chất lượng thấp làm giảm tuổi thọcủa dựán… Thêm vào đó, tiến trình phê duyệt dựán đầu trải qua nhiều giai đoạn. Chẳng hạn, dựán xây dựng dân sựyêu cầu liên quan đến các quyết định: (i)thiết kếdựán; (ii) đấu thầu dựán; (iii)kiểm soát thầu; (iv)thương lượng thầu; tiến trình ký hợp đồng thầu. Biên soạn hợp đồng thầu đầu tưrất phức tạp và không thểtránh khỏi nhiều vấn đềthiếu chắc chắn và không đồng thuận. Những cán bộcao cấp có thểgây ảnh hưởng trong việc lựa chọn các doanh nghiệp tham gia đấu thầu. Sựchi tiết hóa các bản thiết kếdường nhưchỉdành riêng cho một vài doanh nghiệp. Sựgọi thầu đi kèm theo việc cung cấp thông tin bên trong cho những doanh nghiệp “có sự đãi ngộ”. Đối với doanh nghiệp được sắp xếp nhận thầu, khi nhận được hợp đồng thầu, đặc biệt là dựán lớn, có thểmang lại cho họmột khoản lợi nhuận rất lớn. Vì thếnhững người quản lý cũng sẵn lòng chi trảtiền hoa hồng rất “hậu hỉ” cho các cán bộcấp cao đểgiúp cho họgiành được hợp đồng thầu. Tiền hoa hồng được tính vào trong chi phí đểgiảm trừthuếtheo cách thức tiền hoa hồng tính theo tỷlệphần trăm chi phí dựán. Thật ra, các doanh nghiệp chi trảtiền hoa hồng cũng không phải gánh chịu hoàn toàn chi phí này. Họcó thểthu hồi lại bằng nhiều cách: (i)trong gói thầu bao gồm chi phí hoa hồng; (ii)giảm đi đi chi phí đầu tưcủa dựán bằng cách: nâng giá, khai khống khối lượng, bớt vật tư, tráo vật tư. Và để hợp thức hóa hồsơ, chứng từ, các doanh nghiệp phải sửdụng nhiều thủ đoạn gian dối, tinh vi. Dĩnhiên, tất cảcác hành động trên đều có sựtham gia của cán bộcao cấp tham nhũng. Các cán bộ này biết dùng quyền lực của mình lái sựphê duyệt dựán đầu tưcho các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài được “ưu ái” để đổi lại nhận khoản tiền hối lộ. Phải nói rằng bằng quyền lực của mình, các cán bộcao cấp tham nhũng có khuynh hướng khai thác và lợi dụng nó can thiệp vào các quá trình đầu tư để đem lại lợi ích cho cá nhân.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC